Sách nói Kỹ Năng Sống Giúp Trẻ Phát Triển - Học Cách Tự Thoát Hiểm
36 pho phuong.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:46' 05-07-2025
Dung lượng: 268.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:46' 05-07-2025
Dung lượng: 268.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường
Thạch Lam
Tựa
Hà Nội – Thăng Long - chốn cố đô yêu dấu của chúng ta đã gần hai nghìn
năm soi bóng trên dòng sông Nhị. Và nó sẽ mãi mãi soi bóng trong lòng
người Nam Việt, khi mà mỗi thời còn có những trang phong lưu mặc khách
đem ghi chép trong văn thơ, để truyền lại hậu thế cái đời sống của nó, cái
lịch sử của nó.
Lịch sử Thăng Long phải đâu chỉ là những lớp sóng phế hưng dồn dập từ
đời vua này sang đời vua khác, kế tiếp nhau mà xây cung điện nguy nga ven
hồ Trúc Bạch, bên hồ Hoàn Kiếm? Nó còn là cuộc sinh hoạt hằng ngày của
dân thành thị, với tất cả những phong tục, tập quán, với tật cả những nhân
vật kỳ khôi, với tất cả những cái vui, cái buồn,c ái tức, cái giận nho nhỏ sống
trong xó tối, không tên, không tuổi, không tiếng tâm lưu lại đời sau.
Mà những nhà biên tập pho sử ký bình dị này thường cũng không tên,
không tuổi, không tiếng tăm lưu lại đời sau.
Dù vô danh hay hữu danh, đều được công chúng yêu chuộng biết bao! Và
những trang sử của họ có khi không cần đem in ra nhiều bản, chỉ truyền tụng
từ miệng này sang miệng khác. thế mà đó đều là những tác phẩm bất hủ, vì
đã thành chúng tadao, tục ngữ, hoặc những giai thoại trong dân gian.
Long Biên, cái tên thứ nhất của Hà Nội. Long Biên mà một thi sĩ đã chúng
tatụng trong một bài Ðường luật:
Long Biên đã đắp tự đời nào?
Chẳng thấp nhưng mà cũng chẳng cao.
Chăm chăm ngoại thành xây cũng đẹp,
Cồn cồn dòng nước chảy tuôn vào.
Long Biên đã đắp tự đời Cao biền, nhà thơ Thăng Long cũng chẳng thèm
biết. Ðến cả hai chữ Cao Biền, thử hỏi trong dân chúng, mấy ai còn nhớ, nếu
đó không là một tên thầy địa lý cao tay mà mọi người khiếp sợ. Môn chính
trị xa họ bao nhiêu thì môn địa lý gần họ bấy nhiếu, gần với tín ngưỡng và
tập quán của họ. Nếu Cao Biền chỉ là một chính khách khôn khéo, một nhà
tổ chức có đại tài, thì y đã chết từ lâu trong ký ức dân Hà Thành rồi. Phần dã
sử hầu hoàn toàn chiếm lấy cái đời lạ lùng của nhà đô hộ. Mà phần dã sử ấy
– nghĩa là thiên sử ký phong phú nhất, thật nhất vì sản thực, chất phác của
dân - phần dã sử ấy không ra ngoài môn địa lý. Nào chuyện “Cao Biền dậy
non” nào chuyện “Cao Biền cưỡi diều đi tìm đất”, nào chuyện “Thần Tô
Lịch hiện lên mách đất cho Cao Biền”. Bao nhiêu chuyện kỳ dị biến đổi tùy
theo tài tưởng tượng của từng người kể, mà trong đó, môn chính trị của Cao
Biền không dấu hết.
Cao Biền xa ta quá và đã hầu là một nhân vật hoang đường. Ðến như những
nhân vật gần chúng ta hơn mà sử ta đã ghi chép tường tận những huôn công
võ lược, cũng không còn có vang bóng gì trong trí nhớ dân chúng Hà Thành
và Nam Việt. Dễ mấy ai biết rằng trên sôgn Nhị kia, dưới gầm cầu “Dốc
gạch”, hàng trăm thuyền lớn của Chế Bồng Nga đã chen chúc đậu và từ đó
hàng nghìn vạn quân Chiêm Thành, cởi trần, da nâu và bóng như đồng mắt
cua, đã giương nỏ mạnh bắn những tên lửa lên các phố, các phường, đẩy dân
thành thị tranh nhau chạy loạn?
Rồi tới nhà Lê, họ Mạc, họ Trịnh kế tiếp nhau xây dựng lâu đài bên hồ Tây
và hồ Hoàn Kiếm. Thì nay cũng chỉ:
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Trong lòng người vẫn ghi nhớ những điều muốn ghi nhớ, những điều thuộc
phạm vi mỹ thuật, và tình cảm – Lòng người coi thường trận thủy chiến kinh
thiên động địa. nhưng lòng người đã không quên cái tình cảnh đáng thương
của một nàng công chúa nhà Trần lọt vào tay anh Chàm đen đủi:
Công chúa lấy thằng bán than,
Nó đưa lên ngàn cũng phải lên theo.
Người Hà Thành đọc lại câu chúng tadao cổ gần nghìn năm, tác phẩm của
một văn nhân Thăng Long đầy trắc ẩn còn như đứng bên bờ sông Cái mà
nhỏ lệ trôgn theo nàng Huyền Trân sừng sững trên sân lái một chiếc thuyền
bồng giương buồm, thuận gió chạy ra biền để xuôi Nam. Hình công chúa
thon thon in bật lên nền trời sắc máu. Và dân Thăng Long chờ cho con
thuyền lượn khuất sau cồn Phúc Xá mới chịu rời bước trở về nhà ngậm ngùi
than tiếc:
“Ngọc quí ngâu vầy!
“Thương thay cây quế giữa rừng,
Ðể cho thằng Mán thường Mường nó leo.”
Ðối với dân Thăng Long, cũng như dod61i với dân Hà Thành ta ngày nay,
rất mập mờ về khoa địa dư: người mạn ngược hay người Chàm, người Mên,
họ đều cho là Mán là Mường cả.
Vào thời giữa hai triều Trần và Lê dân Thăng Long hẳn là lao đao khổ sở
hết chạy loạn Hồ đến chạy loạn Minh. Nhưng rồi người ta cũng chỉ ghi vào
nhật ký, vào sử ký - sử ký đã gợi những việc tức cười đau đớn:
- Cái nợ Liễu Thăng!
- Và cái chết của Nguyễn Trãi gây nên – theo lời dã sử - do sự báo oán tiền
kiếp của một cô gái Tây Hồ bán chiếu, một nữ thi sĩ tinh nghịch cười đùa
như Xuân Hương:
Em ở Tây Hồ bán chiếu gon,
Chồng còn chưa có, hỏi chi con?
Dân Hà Thành ta từ xưa vẫn thích cười; cười buồn cũng như cười vui.
Thỉnh thoảng lại phá lên một tiếng cười bi ai chua chát hay tiếng cười lờm
của Cống Quỳnh về thời hậu Lê dưới quyền hống hách của chúa Trịnh. Và
không biết ai đã thốt ra một câu ca dao quá quắt để mỉa mai ông quan thị mà
chúa Sầm giao cho cái trọng trách canh phòng một nàng công chúa yêu?
Ðó là cách viết sử của chúng ta. Nếu nói được rằng nhà sử đích đáng là biết
chép những điều đáng chép và bò những điều đáng bỏ, thì các sử gia Thăng
Long thực đã làm tròn phận sự, đã chép những cái hoàn toàn có tích cách
Thăng Long và Nam Việt. Còn gì Nam Việt hơn Truyện Tấm Cám hiện nay
vẫn lưu truyền ở cửa miệng, từ thành thị cho chí thôn quê. Ðó là một truyện,
một việc Thăng Long, đã xảy ra trên đất Thăng Long:
Nhưng phải chờ hàng chục năm nữa, mới thấy được những nhà biên tập cho
cuốn sử Hà Thành có tên có tuổi để lại hậu thế. Ðó là nàng Xuân Hương, rồi
chàng Tú Xuất, chàng Ba Giai.
Chúng ta đi qua chùa Quán Sứ, ai mà giữ được không thầm đọc bài thơ
tuyệt tác của Xuân Hương, tuy chùa Quán Sứ ngày nay chẳng còn nữa cái
cảnh vắng teo, cái cảnh:
Sáng banh không kẻ khua tàng mít,
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Tôi chắc không nơi danh thắng Hà Thành nào lại không có vết tích các nhà
văn yêu Thăng Long ấy, lại không được dự một phần vào cuốn sổ nhật ký,
vào tập văn tùy bút của họ. Có lẽ chỉ vì không người gìn giữ cho nên những
ông văn quý báu đã thất lạc mất cả, những áng văn và người đạo mạo đồng
thời coi thường là văn chương đùa bỡn hay nhỏ mọn, không đáng kể, không
đáng lưu lại hậu htế…
Ðến thời chúng ta. Ðến Tú Mỡ và Thạch Lam…
Như Ba Giai, Xuân Hương (cùng một họ Hồ với Tú Mỡ), Tú Mỡ đã giễu
các nhân vật Hà Thành và khiến cho họ bất hủ. Tú Mỡ yêu Hà Thành chẳng
kém bọn Tú Xuất và Xuân Hương, trở thành tinh quí, ranh mãnh, ngạo người
yêu Hà Thành thấm thía hơn, âm thầm hơn là Thạch Lam.
Cũng có lúc Thạch Lam mỉm cười thương hại như Cống Quỳnh, như Xuân
Hương trước cái dốt Hà Thành, trước những cái biển bằng chữ Pháp rất lố
lăng và dốt nát của các bác pho cạo, của các ông hàng vải. Thạch Lam lại
cũng tức giận như Xuân Hương khi thấy người ta vô tâm hay hữu ý làm mất
vẻ đẹp nơi thành phố xinh xắn của chúng ta.
Xuân Hương viết:
Ai về nhắn nhủ phường lối tôi,
Muốn sống đem vôi quét trả đền.
Và Thạch Lam thủ thỉ - bao giờ Thạch Lam cũng chỉ thủ thỉ, dù tức giận
đến đâu:
“Những thanh sắt ở đó (chùa Ngọc Sơn) cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa
thấy ông bạn nào đó làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị nghĩa là bỏ những cái
đó đi là xong.”
Nhưng Thạch Lam lưu tâm nhất đến cuốc sống hàng ngày của Hà Thành
đến những cái thứ cõn con của dân thành phố, cùng là những nhân vật bé
nhỏ, đã gây cho thành phố cái tính cách đặc biệt của nó.
Ta hãy nghe Thạch Lam mở mục quà Hà Nội với một giọng yêu đương và
tự phụ của một dân Hà Nội: “Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng là ngon lành
và lịch sự. Ở các thôn quê, chút “quà Hà Nội” là của mong đợi, và tỏ được
lòng quý hoá của người cho…”
“… Nếu chúng ta về các tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Ðịnh
nữa, chúng ta mới biết quà Hà Nội có vị ngon là chừng nào! Cũng là thứ bún
chả chẳng hạn, cũng rau ấy, bún ấy thế sao mà bún chả của Hà Nội ngon và
đậm thế, ngon từ cái mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi”.
Ta như nghe thấy tiếng nhai và tiếng xuýt xoa của người ăn bún chả. Ngon
thật! Và cái ngon, cái đặc sắc của Hà Nội ấy đáng được người ta nói đến và
chép lại như người ta đã nói, đã chép lịch sử bà Ba Tý, bà Tư Hồng, hai nhân
vật Hà Nội nhất của thời nay.
Và Thạch lam đã nói đến, đã ghi chép tường tận đầy đủ, tỉ mỉ với tất cả tấm
lòng yêu của Thạch Lam. Thạch Lam yêu cũng như Thạch Lam ghét đều tha
thiết tuy âm thầm.
Thạch Lam thực là một nghệ sĩ, một thi sĩ về khoa thẩm vi. Nghệ sĩ muốnt
ận hưởng. Thi sĩ tìm cảm hứng trong vi tế cũng như trong vĩ đại. Hiểu nổi
Thạch Lam tất đã phải biết như Thạch Lam rằng: “Ăn quà là một nghệ thuật,
ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy mới là người sành ăn. Tất phải
đứng ngắm nghía cô bán bánh cuốn Thanh Trì, dáng điệu uyển chuyển gánh
hàng đi vào trong phố hay ngồi nhanh nhẹn bóc từng cái bánh mỏng như tờ
giấy và trong như lụa.”
Thạch Lam không quên một thứ quà rong nào, mỗi thứ Thạch Lam đều tả
hết cái hương vị, cái hình thức đặc biệt của nó, hương vị và hình thức truyền
lại không biết tự đời nào. Nếu Thạch Lam thích làm thơ thì hẳn đã viết
những bài Ðường luật hay tứ tuyệt để vịnh chiếc bánh “bánh rán nóng một
xu hai” hay “cô hàng cơm nắm lẳng lơ với hai quang thúng bỏ chùng trông
cũng ngon mắt như quà của cô vậy”. Y như những bài thơ vịnh bánh nhồi,
vịnh bánh trôi của Xuân Hương. Biết đâu Xuân Hương cũng không cảm
hứng trong khi xơi quà Hà Nội mà đọc ra những bài thơ lưu truyền kia!
Thạch lam không làm văn vần như Xuân Hương. Nhưng tứ thi phong phú,
màu sắc sáng tươi, nét vế nhịp nhàng, đã khiến nhiều đoạn văn xuôi của
Thạch Lam trở nên những bài thơ kháu khỉnh. Ðây ta hãy nghe Thạch Lam
tả về quà bún ốc:
“Có ai, buổi trưa vắng, hay lúc đêm khuya, đi qua nhà cô đào, nhà các chị
thanh lâu, thấy họ ăn cái quà ấy một cách chăm chú và tha thiết đến đâu
không? Nước ốc chua làm nhăn nét mặt tàn phấn và mệt lả: miếng ớt cay
làm xoa xuýt những cặp môi héo hắt, và khiến đôi khi nhỏ những giọt lệ thật
thà hơn cả những giọt lệ tình.
“Cô hàng ốc có một cái dụng cụ, một đầu là búa, một đầu là dùi nhọn. Một
cái gõ nhẹ và một cái trở tay, là con ốc nguyên cả ruột đã gọn gàng rơi mình
vào bát nước chấm. Cô thoăn thoắt rút ốc không kịp. Trông thấy người ta ăn
ngon lành, chính cô cũng sinh thèm: cô thú thật với tôi như thế.”
Biết bao ghệ thuật trong một bức tranh nhỏ mọn nhưng tinh tế. Và đến
được nghệ thuật ấy không phải chỉ có tài, mà còn phải có lòng yêu, yêu
thành thực, yêu trong thâm tâm, yêu những cái bé bỏng của những đời bé
bỏng, nghĩa là yêu Hà Nội, vì những cái bé bỏng ấy tức là tất cả Hà Nội.
Thạch Lam vĩnh biệt Hà Nội giữa một công cuộc mà anh đã tỏ ra có đủ tài
năng để theo đuổi tới đích: công cuộc soạn một pho Hà Nội du ký. Nếu anh
còn rán ở lại với chúng ta, thì ngòi bút linh động của anh tả cái Hà Nội hiện
thời này, hẳn phải làm chúng ta…
Khái Hưng
29-7-43
Hà Nội băm sáu phố phường
Người Pháp có Paris, người anh có London, người Tàu có Thượng Hải…
Trong các sách vỡ, các báo chí, họ nói đến thành phố của họ một cách tha
thiết, mến yêu… Ta phải nghe người Pháp nói đến Paris, người ở Paris mới
hiểu được sự yêu quý ấy đến bực nào.
Chúng ta cũng có Hà Nội, một thành phố rất nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp
thật (chúng ta chỉ còn tìm những vẻ đẹp ấy ra), và cũng vì chúng ta yêu mến.
Yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội , cũng như người Parisien chính
hiệu yêu mến Paris… Trong những cuộc phiêu du - phiếm du ngoài các phố
Hà Nội là một cái thú vô song chỉ người Hà Nội có – ta nên chú ý đến
những nét thay đổi của thành phố , nên nhận xét những vẻ đẹp cũng như vẻ
xấu của phố phường, thân mật với những thú vui chơi, hay những cảnh lầm
than, với những người Hà Nội cũng như ta. Hà Nội có một sức quyến rũ đối
với các người ở nơi khác… Ở những hang cùng ngõ hẻm của làng xa, hay
những nương mật thẳm trong rừng núi, ban chiều vẫn có nhiều người ngóng
về một phương trời để cố trôgn cái ánh sáng mờ của Hà Nội chiếu lên nền
mây. Ðể cho những người mong ước kinh kỳ ấy, và để cho những người ở
Hà Nội, chúng ta nói đến tất cả những vẻ riêng của Hà Nội, khiến mọi sự đổi
thay trong ba mươi sáu phố phường đều có tiếng vang ra khắp mọi nơi.
Thạch Lam
Những Biển Hàng
Ðã có nhiều người nhận ra rằng phố Hàng Ðào là của… loài vật. Ở đấy, có
đủ để làm một gánh xiếc. Trước hết có hiệu trâu vàng, hẳn thế. Ấy là câu
chuyện huyền thoạicủa ông Khổng Minh Không đã được hình tượng ra bằng
hai cái biển. Rồi đến hiệu bò vàng, cá chép vàng (cá chép hóa long thì đúng
hơn và con cá này đã trái tật chạy lên Hàng Ngang rồi), con lạc đà không
biết đến đây để làm gì?, con gà sống kim kê hẳn thôi, con hươu sao, con kỳ
lân, con phượng (lai hoàng), con rùa rùa (kim quy), con rùa rùa này về núi
rồi, con vịt che ô, con voi (con này cũng về rừng), và con tê giác. Các nhà
hàng còn lâu mới dùng hết được tên các loài vật. Và chúng ta nên nhận rằng
trong các con vật đã dùng, không có con nào dữ cả. Con tê giác thì kể là vật
dữ, nhưng con tê giác ở Hàng Đào thì lành lắm: nó không cắn ai bao giờ.
Không có hổ vàng hay sư tử vàng, chẳng hạn. Vì những con vật trên kia là
những con vật thần linh chăng, hay là những con vật chỉ lành có thể gợi lòng
tin của khách mua? Con trâu, con hươu, con bò ... Những con vật này có làm
hại được ai bao giờ đâu? Vào nhà con trâu, con hươu mua vải, lụa, chắc
không bị hớ, chắc sẽ được nhà hàng tiếp đãi niềm nở và tử tế (như các bà
bán hàng Việt Nam biết tiếp khi khách chỉ mặc cả mà không mua, hay muốn
mua mà trả rẻ), và nếu họ có bị dại như một con bò thì cũng được an ủi rằng
ít ra cũng là một con bò vàng.
Tôi chỉ không hiểu tại sao bỗng dưng lại có con lạc đà. Con vật này hình
như lạc loài vào đám ấy, giữa những con vật mà nó không quen bao giờ.
Người phương Tây khinh ai thường gọi: cái anh lạc đà ấy ... Theo nghĩa đó
thì con lạc đà ám chỉ nhà hàng hay khách mua hàng?
Chúng ta còn phải hỏi tại sao con vật khác không được dùng, và tại sao địa
phận chúng chỉ có phố Hàng Đào thôi. Lên đến Hàng Ngang, xuống đến Bờ
Hồ, là đã không có loài vật rồi (con cá hóa long lên Hàng Ngang là trái với lẽ
trời).
Có một người kể chuyện với tôi rằng đó là tại nhà hàng ganh tị nhau.
Nguyên hồi bấy giờ phố hàng Đào còn hẹp, nhà hai bên phố không cách
nhau xa mấy. Có hai ông chủ hiệu to, ngẫu nhiên một hôm cùng có một ý, là
lấy con hươu làm biểu hiệu. Hai con hươu cùng treo một lúc. Có nhiều sự
nhầm lẫn xảy ra về sau, nhưng hai ông cùng ganh, không ông nào chịu đổi
con khác. Như thế được một năm. Rồi bỗng nhiên, một ông lấy ngay con báo
làm biểu hiện, và phao ngôn lên rằng chỉ ít lâu bữa làbáo sẽ cắn hươu chết.
Ông chủ hiệu kia tức khí lấy biển hiệu con hổ và phao ngược lại.
Ông chủ hiệu này chẳng chịu kém đổi ngay con báo ra con sư tử. Ông kia
cũng lập tức đổi ra con voi.
Đến con voi thì ông này tức quá: vì không có con nào khỏe hơn con nữa.
Voi đứng đầu trong giống vật rồi. Chỉ có cách làm con voi hơn. Thế rồi ông
làm con voi to hơn. Ông kia cũng chẳng chịu kém, lại làm con voi to hơn
nữa. Hai con voi cứ thi nhau mà to mãi ra. Phố thì hẹp, cho nên một ngày kia
hai con voi đụng vòi nhau, lấp cả lối đi.
Việc đến cửa quan. Ông quan phân xử, bắt voi hai bên đều bé lại, và ra lệnh
từ đấy chỉ được dùng những con vật hiền (như voi chẳng hạn) làm biển hàng
mà thôi. Những con vật dữ như báo, hổ, gấu, mèo ... đều cấm tiệt.
Ấy là người ta kể cho tôi nghe câu chuyện như thế. Chuyện chả biết có thật
hay bịa, nhưng giảng tại sao người ta không dùng các thú vật dữ thì có (tuy
vậy, con tê giác?), còn tại sao các vật chỉ có phạm vi phố Hàng Đào, không
lên Hàng Ngang, không xuống Bờ Hồ, thì tuyệt nhiên không.
Người Ta Viết Chữ Tây
Cái biển hàng nào viết bằng chữ Pháp đầu tiên treo ở phố Hà Nội? Thật khó
mà biết được. Nó là một điều thuộc về lịch sử cần phải tìm ra, để đánh dấu
cái ngày mà một con người Việt Nam bắt đầu dùng thứ chữ phong phú nhất
phương Tây.
Từ bấy đến nay, ít ra cũng ngoài sáu chục năm. Sáu chục năm người mình
học chữ Pháp, tưởng đã đến lúc thâu thái được hoàn toàn. Bây giờ các biển
hàng viết chữ Pháp chiếm đến chín phần mười trong các biển hàng. Nhiều
hàng, tuy chỉ giao thiệp với khách hàng Việt Nam thôi, cũng để toàn chữ
Pháp, cũng như ngày xưa họ toàn dùng chữ nho.
Ngày tôi còn nhỏ, ông thầy dạy vẽ của tôi bỏ nghề ra mở một xưởng vẽ ở
phố Bờ Hồ. Ngoài cửa hàng treo một cái biển vẽ một cái gái rất xinh chỉ tay
vào mấy dòng chữ. Vì cô gái, tôi đi học về lần nào cũng đứng lại nhìn, và vì
vậy mới thuộc mấy dòng chữ đó đế bây giờ. Mấy dòng chữ như thế này: "Ici,
il existe un dessinateur portraitiste, aquarelliste et architecture".
Đã hơn mười năm rồi, mà mỗi lần nhớ đến câu chữ Pháp ấy tôi cũng không
khỏi buồn cười. Nhân thế hôm nay tôi nẩy ra cái ý muốn dạo qua tất cả Ba
mươi sáu phố của chốn "nghìn năm văn vật" này để đọc các biển hàng chữ
Pháp, và xem người mình dùng chữ Pháp đã tiến bộ đến bậc nào.
Thì quả thực đã tiến bộ rất nhiều:
Này đây những biển: Salon de coiffeur, X ... bon coiffure, T.D. Coiffeur de
Beauté, hay; M. librairie, mercerie, relieur, M.S. Prothèse dentaire, Beauté
hygiénique de la bouche, M.S dorure et dargenture, T.T fabricateur de
pousse pousse, T.O vente et réperateur de machine de tout sorte, D.T.
Ferronnerie, quinconnerie, H. Vanerie, O. Serée, Filets de sports. Chữ
Élégant hình như được nhiều người yêu chuộng nhất: vì tỏ ra élégant có phải
không?
P.T. Coiffeur élégant (Bạch Mai), Boulangerie élégant (Hàng Bông), A la
coupe de Paris - D.M. tailleur élégant (Hàng Quạt), Aux paradis des élégant
... (Lê Quý Đôn), hiệu này đâu trước là: Au gout des élégant ... P.T. Tailleur
des élégants (Hàng Quạt) ...
Toàn những Élégancel à Élégance, thật xứng đáng với (Hà thành hoa lệ).
Và tôi nhận thấy, nội trong các hiệu dùng nhiều chữ tây nhất, và dùng một
cách đáng yêu nhất là hiệu thợ may. Có lẽ vì các ông chủ hiệu đó may quần
áo cho thiên hạ nên họ tự nghĩ như bắt buộc phải dùng chữ Tây mới họp
thời.
Một hiệu khoe các hàng: "Dernìeres nouveautés de Paris: laine Elboeuf,
laine Red Star, laine Dormeuse ..." (qui fait bien dormir - hẳn thế).
Hiệu kia: "lanine pieds de poule Prince de gales".
Một hiệu khác tham bác cả Tây lẫn ta, và tạo nên một cái tiếng thần tình
này: Satin súp.
Nhưng đến tên các hiệu thì sự văn hóa và cầu kỳ thực đã đến cực điểm: "Au
parfait tailleur" (Hàng Bông), "Maitre tailleur", "Paris tailleur" (Hàng Quạt).
Chữ luxe, chắc hẳn trong trí các ông chủ hiệu thợ may, là biểu hiện của cái
tuyệt đích trong sự sang trọng, nên có đến ba ông dùng: La Mode, tailleur de
luxe, D.P.T tailleur de luxe (Hàng Gai), Tr. tailleur de luxe (Lê Quý Đôn),
(ông này viết là luxe không có e, ý chừng tỏ ra luxe một bậc nữa). Nhiều ông
khác ưa tỏ ra biết tiếng ngoại quốc hơn. Modern tailor (chợ Hôm),
Gentlemens modern tailor (hiệu chỉ có một cái máy khâu cũ và tấm vải xanh
che bên ngoài) và CH. R Gents? tailor (Hàng Trống) ...
Thế cứ tưởng đã đủ rồi. Ca va, taileur! (Hàng Trống), De la tenue, tailleur
et de la frantaisie, tailleur (Hàng Trống).
Rồi lại còn: D.T. Spécialist des chemises et des pyjamas; T.L. Coupe
incroyable aux pyjamas dirigée par S ...
Nếu một ngày kia chúngta thấy đề: X. Tailleur, prix, soigne, trvail
impeceable, coupe modérée, thì cũng chẳn nên ngạc nhiên tý nào.
Nhưng hòn ngọc đẹp nhất có lẽ phải dành riêng cho hiệu này ở phố Hàng
Buồm: L.S. photographe, marchande de Chinoiserie.
Ấy là mới dạo qua một vài phố đông đúc, chúng ta đã được đọc nhiều câu
chữ Pháp lạ lùng như thế rồi. Ở các hang cùng ngõ hẻm, đối với người tò
mò, hẳn còn tìm thấy nhiều cách áp dụng chữ Pháp một cách thần tình hơn
nữa.
Nhưng ngẫm kỹ ra thì cũng chẳng nên lấy làm lạ, vì ở một xứ có tờ báo
(nghĩa là do hạng trí thức viết), dịch Hôtel de ville là khách sạn của thành
phố và Stars à Hollywood là dân tộc Star ở Mỹ châu, thì các ông chủ hiệu
trên kia kể còn là giỏi nhiều.
Mà, có phải không, tờ bao Phụ nữ tân văn ở trong Nam đã treo biển "Le
Journal des Dames", và tờ Phụ nữ thời đàm ở ngoài Bắc, "La premìere
organe de la femme Annamite"? .
Hàng Mứt, Hàng Đường, Hàng Muối Trắng Tinh
Hà Nội đã thay đổi nhiều lắm. Những phố cũ, hẹp và khuất khúc, với những
nhà thò ra thụt vào, những mái tường đi xuống từng bậc như cầu thang,
những cửa sổ gác nhỏ bé và kín đáo, đã nhường chổ cho những phố gạch
thẳng và rộng rãi, với từng dãy nhà giống nhau đứng xếp hàng. Thẳng và
đứng hàng, đó là biểu hiện của văn minh. Khi ông cầm lái chiếc ô tô thì ông
lấy làm dễ chịu vì đường rộng, vì phố thẳng lắm. Nhưng đối với người tản
bộ đi chơi, lòng thư thả và mải tìm sự đẹp, thì phố xá mới không có thú vị gì.
Không có những cái khuất khúc dành cho ta nhiều cái bất ngờ, không có một
ngọn cây hoa nhô sau bức tường thấp, khiến chúng ta đoán được cả một thửa
vườn nhỏ bên trong, ở đấy biết đâu lại không thướt tha một vài thiếu nữ khuê
các như xưa.
Chỉ còn một vài cái ngõ con ... ngõ Phất Lộc, ngõ Trung Yên ... mấy ngọn
cỏ trên mảnh tường cổng ô Quan Chưởng, là gợi dấu vết của Hà Nội cũ.
Ngày ấy, đường hẹp, chắc hàng xóm láng giềng ăn ở với nhau thân mật hơn.
Người cùng hàng phố tự coi như có một liên lạc cùng nhau. Bên này một cửa
hàng tạp hoá có đầy đủ quả sơn đen, có chồng giấy bản và ống bút nho, có
cô hàng thuỳ mị mà hàng phố vẫn khen là gái đảm đang. Bên kia, nhà một
ông cụ Tú, có tiếng trẻ học vang, có cậu học trò xinh trai đứng hầu chè thầy
bên tràng kỷ.
Những nhà cũ của ta có một lối kiến trúc riêng. Ở các phố Hà Nội hiện giờ,
thỉnh thỏang cũng còn được một vài nhà. Giữa nhà, mảnh sân vuông lộ thiên,
có bể non bộ và cá vàng, có dãy chậu lan, có bể đựng nước, và trên tường có
câu đối chữ nho. Đôi khi đi qua, một cánh cửa hé mở, chúng ta được thoáng
nhìn vào; bóng một thiếu nữ nhẹ qua sân, hình dáng một ông cụ giàcúi mình
trên cây cảnh. Tất cả cuộc đời của những kẻ bên trong, cuộc đời xưa, những
ý nghĩ cũ, những hy vọng và mong ước khác bây giờ.
Không còn gì của Hà Nội ngoài năm sáu mươi năm trở về trước. Thăng
Long của vua Lê, của chúa Trịnh không còn dấu vết nào: đâu còn những
cung điện ngày xưa, những phụ đế của các bậc công hầu khanh tướng?
Thỉnh thỏang một vài tên gọi còn nhắc lại, một vài đống đất còn ghi dấu, thế
thôi. Chúng ta không biết được mấy về dĩ vãng, về cảnh phố xá kinh kỳ hồi
cụ Lãn Ông, một túi thơ, một bồ thuốc, đi từ Bát Tràng đến Hồ Tây để chữa
cho hoàng tử.
Trong một bài báo, tôi đã nói (Hà Nội XVII ẻ sìecle) rằng cái "nghệ thuật
biển hàng" ở Hà Nội đã mất. Ngày xưa, cái biển hàng còn là một cái gì hơn
không chỉ là một cái biển hàng mà thôi. Đó là một bộ gì liền với cơ nghiệp
và số vận của người buôn, cái biển hiệu thực hiện của những cố công nhẫn
nại và những đức tính ngay thật của chủ hàng. Đề biển phải chọn ngày tốt,
phải xin chữ của những người viết giỏi có tiếng, và người ta thận trọng giữ
gìn như một thứ của gia bảo ở những cái biển cũ đã tróc sơn, mà gió mưa
bao nhiêu năm đã làm lạt cả vàng son, những nét chữ mạnh mẽ và rắn rỏi
vẫn còn như nguyên mới. Tôi không khỏi bao giờ đi qua không dừng bước
lại ngắm ngía ba chữ đại. "Vạn Thảo Đường" trên cái biển cũ kỹ của hiệu
thuốc ấy ở đầu phố Hàng Đường.
Ba chữ "Đông Hưng Viên" cũng sắc nét và còn mới hơn. Ngày trước còn
mấy chữ "Cộng Hòa Đường" viết bằng son đỏ tươi, lối nửa chân nửa lệ, chữ
bay bướm, trông đến thích cả mắt.
Nhưng bây giờ người ta đã xóa đi để thay vào bắng lối chữ "vuông tân
thời" trong các quảng cáo ở báo Tàu hay bằng những chữ điện tím hoa cà,
xanh lá mạ đêm đêm sáng ngời một góc trời. Tất cả cái gì cũng thay mới
người ta không những thấy có biển hàng, người ta thấy cả bề mặt cái cửa
hàng nữa. Và sự thay đổi bề ngoài ấy đem đến cho phố xá Hà Nội một vẻ
mới riêng, hơi lạ lùng và đột ngột.
Trong đêm khuya, chúng ta thử dạo chơi các phố, lúc đó không bị những
ánh sáng và thức hàng làm lóe mắt. Lúc đó những cửa hàng mới mẻ đã đóng
cả, và cái phố với căn nhà đều phô bày vẻ thật. Các nhà chỉ thay đổi có phía
dưới sự thay đổi ít khi lên đến tầng trên. Và bây giờ, nếu người ta có phép gì
cắt bỏ các tầng dưới và đặt các tầng trên xuống đất, chúng ta sẽ có một hàng
phố cũ kỹ với những hàng bát quái, mảnh gương và dơi bay một phố từa tựa
như phố của kinh kỳ xưa, chắc thế.
Có một bạn nào trông coi về vẻ đẹp của thành phố Hà Nội không? Hình
như có thì phải, tuy rằng bạn đó không thấy làm cho người ta nói đến mình.
Nhưng cái đó không hề gì, miễn là bạn đó cứ làm việc là đủ.
Ngày trước, ở trước cửa phủ toàn quyền, còn có một nhóm tường mà người
ta đã phá đi rồi, cách đây đâu mười năm gì đó. Nhóm tường đó trông xa
giống như mâm xôi; ở đỉnh có những hình thù gì, tôi không nhớ, nhưng ở
phía dưới, có tượng hai người đàn bà nằm choài ra như bơi, tóc buông xõa và
lẩn mình vào thành bể. Hai người đàn bà đó người ta bảo là hình dung hai
con sông Nhị Hà và Mêkông.
Chúng ta tưởng tượng phong cảnh hồ Hoàn Kiếm với cái mâm xôi bằng đá
lù lù ấy. May thay không biết có ai phản đối, người ta bỏ cái dự định ấy, và
đem nhóm tường dựng ở trước cửa phủ Toàn quyền, để rồi sau đó ít lâu phá
đi.
Sự phản đối ít lợi ấy có lẽ là công việc của ủy ban coi về vẻ đẹp của thành
phố hẳn?
Sau đó ít lâu, một dạo, ngay bên cổng của đền Ngọc Sơn, chúng ta được
trông thấy đứng sừng sững và thẳng tấp một cái cột dây điện chằng chịt và cả
đèn điện với những cái "bình tích" bằng sứ trắng, khiến cho cái cột sắt sơn
hắc ín đó như một thứ cây già mọi rợ vụng về. Cái cây đó làm cho vẻ đẹp
của cổng đền Ngọc Sơn giảm mất đến chín phần mười.
Nhưng lại may thay, cũng cách sau ít lâu, cái cột đó không còn nữa. Công
việc của ủy ban kia chắc thôi.
Sau đó ít lâu nữa, cảnh đền Ngọc Sơn lại chịu phải một sự thêm thắt xấu xa
khác.
Có lẽ theo lời yêu cầu của những ai trông nom cái đền đó, người ta đã cho
bắc suốt từ ngoài cổng, qua đầu, vào đến trong đền, những vòng sắt nền, có
những đường uốn lượn ngoằn ngoèo, cũng sơn hắc ín, và để mắc đèn.
Mắc đèn cho sáng, cho tiện những người đi lễ đền. Một ý tốt, rất tốt. Nhưng
sao lại phải trả bằng một cách bôi nhọ vẻ đẹp của đền thế? Muốn sáng cổng
và sáng cầu thì thiếu gì cách: mắc đèn vào những chỗ lõm khuất khúc của
cổng và của cầu: đèn để như thế vừa được kín đáo, vừa không làm giảm vẻ
đẹp, không kể cái lối ánh sáng đập lại ấy dịu dàng và làm tôn cảnh đền hơn
lên.
Đằng này, mắc những võng sắt với cánh hoa hoét rẻ tiền kia vào cái cổng
đẹp đẽ có lối kiến trúc riêng, có vẻ cổ sơ ấy, thực là một cách đập phá mỹ
thuật tai hại không gì bằng.
Cho cả đến ba chữ "Ngọc Sơn Tự" bằng sắt dán trên một tấm lưới cũng sắt,
và có hoa lá cũng sắt nốt, cả cái biển ấy cũng chướng mắt không kém.
Những thanh sắt ấy ở đó cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa thấy cái ủy ban
nào đó nếu ủy ban ấy có làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị: nghĩa là bỏ
những cái đó là xong.
Dạo này, người ta đã xây nhiều bóp cảnh sát phụ ở lác đác khắp Hà Nội,
Yên Phụ, Cửa Nam, Bờ Hồ, Quan Thánh ...
Kiểu bóp như là một cái hòm vuông bốn góc thẳng cạnh, có cửa vào (tất
nhiên) và cửa sổ. Việc xây các bóp ấy chắc là ít lợi nhiều cho việc trị an của
thành phố. Chúng tôi xin cũng nhận thế. Và chỗ đặt bóp chắc cũng đã lựa
chọn rất tiện lợi nữa.
Những bóp khác, chả nói làm gì. Duy chỉ có cái bóp ở Quan Thánh, là làm
giảm mất vẻ đẹp của ngôi đền đẹp đẽ ấy.
Tuy rằng người ta đã cẩn thận cho cái bóp ấy đại để vẫn hình vuông một
hình dáng muốn giống chùa chiền bằng cái mái cong cong, bằng vài cái
trang điểm theo lối cũ. Nhưng mà cái chùa giả ấy trong đó thấy cảnh sát thay
nhà sư không đánh lừa được ai hết, nhất là người yêu mỹ thuật, yêu Hà Nội,
yêu cái vẻ cổ kính của đền chùa.
Chỉ quá một ít nữa, làm xa ra một tý nữa ở phía đường bên kia, hay ở ngay
vườn hoa đầu đường Quan Thánh, vườn hoa Eckert nếu tôi không nhầm, thì
có phải hay biết bao không. Gia chi dĩ, những đường vạch thẳng ngay ngắn
của vườn hoa ấy lại hòa hợp với cái hình thù vuông vắn của nhà bóp lắm.
Quà Hà Nội
Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng ngon lành và lịch sự. Ở các thôn quê,
chút "quà Hà Nội" là của mong đợi, và tỏ được lòng quý hóa của người cho.
Con cháu ngày giỗ ky đưa về dâng cha mẹ, hay các bà mẹ ra tỉnh mua về cho
các con, và chồng đi làm Nhà nước ngày nghỉ mua tặng cho cô vợ mới cưới
... Bao nhiêu ý tốt tình hay gửi vào trong chút quà nơi đô hội, món quà đem
đến cho khắp nơi các vị sành và trang nhã của băm sáu phố phường.
Hàng Quà Rong
Người Hà Nội, ăn thì ngày nào cũng ăn, nhưng thường không để ý. Nếu
chúng ta về ở tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng
ta mới biết quà ở Hà Nội ngon là chừng nào. Cũng là thứ bún chả chẳng hạn,
cũng rau ấy, thế mà sao bún chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái
mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi.
Trong một ngày, không lúc nào là không có hàng quà. Mỗi giờ là một thứ
khác nhau; ăn quà cũng là một nghệ thuật: ăn đúng cái giờ ấy và chọn người
bán ấy, mới là người sánh ăn.
Tang tảng sáng, tiếng bánh Tây đã rao, lẫn với tiếng chổi quét đường. Đó là
quà của những người thợ đi làm sớm. Rồi, có từng độ, phố xá vang lên tiếng
rao "bánh rán nóng, trinh một, xu đôi" của một lũ trẻ con. Cái bánh rán vừa
cứng và xấu, thật làm giảm thanh thế của quà Hà Nội, do một cửa hàng nào
đó muốn kiếm lời, cứ muốn bắt thiên hạ ăn bánh rán lúc còn ngái ngủ.
Này đây mới là quà chính tông: bánh cuốn, ăn với chả lợn béo, hay với đậu
rán nóng. Nhưng là bánh cuốn Thanh Trì mỏng như tờ giấy và trong như lụa.
Vị bánh thơm bột mịn và dẻo. Bánh chay thì thanh đạm, bánh mặn đậm vì
chút mỡ hành. Người bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt và rổ trên đầu, từng
tụm năm, bảy người từ phía Lò Lợn đi vào trong phố, dáng điệu uyển chuyển
và nhanh nhẹn.
Rồi mùa nực thì hàng xôi cháo: cháo hoa quánh mùi gạo thơm, xôi nồng
mùi gạo nếp. Xôi đậu, xôi lạc, xôi vừng mỡ và dừa. Ở, cái xôi vừng mỡ, nắm
từng nắm con, ăn vừa gậy vừa bùi. Mà có đắt gì đâu! Ăn một, hai xu là đủ
rồi. Mùa rét thì xôi nóng, hãy còn hơi bốc lên như sương mù, ăn vừa nóng
người vừa chắc dạ.
Và có ai ngẫm nghĩ kỹ cái vị hành khô chưng mỡ ở trong bát ngô nếp bung
non; hàng giòn và thơm phức, những hạt ngô béo rưới chút nước mỡ trong ...
Ngô bung (xôi lúa) thì có nhiều hàng ngon, nhưng ngon nhất và đậm nhất là
ngô bung của một bà già trên Yên Phụ. Cứ mỗi sáng, bà từ ô xuống phố,
theo một đường đi nhất định, đã ngoài hai mươi năm nay, để các nhà muốn
ăn cứ việc sai người ra đừng chờ. Bà đội thúng ngô, tay thủ vào cái áo ...
Thạch Lam
Tựa
Hà Nội – Thăng Long - chốn cố đô yêu dấu của chúng ta đã gần hai nghìn
năm soi bóng trên dòng sông Nhị. Và nó sẽ mãi mãi soi bóng trong lòng
người Nam Việt, khi mà mỗi thời còn có những trang phong lưu mặc khách
đem ghi chép trong văn thơ, để truyền lại hậu thế cái đời sống của nó, cái
lịch sử của nó.
Lịch sử Thăng Long phải đâu chỉ là những lớp sóng phế hưng dồn dập từ
đời vua này sang đời vua khác, kế tiếp nhau mà xây cung điện nguy nga ven
hồ Trúc Bạch, bên hồ Hoàn Kiếm? Nó còn là cuộc sinh hoạt hằng ngày của
dân thành thị, với tất cả những phong tục, tập quán, với tật cả những nhân
vật kỳ khôi, với tất cả những cái vui, cái buồn,c ái tức, cái giận nho nhỏ sống
trong xó tối, không tên, không tuổi, không tiếng tâm lưu lại đời sau.
Mà những nhà biên tập pho sử ký bình dị này thường cũng không tên,
không tuổi, không tiếng tăm lưu lại đời sau.
Dù vô danh hay hữu danh, đều được công chúng yêu chuộng biết bao! Và
những trang sử của họ có khi không cần đem in ra nhiều bản, chỉ truyền tụng
từ miệng này sang miệng khác. thế mà đó đều là những tác phẩm bất hủ, vì
đã thành chúng tadao, tục ngữ, hoặc những giai thoại trong dân gian.
Long Biên, cái tên thứ nhất của Hà Nội. Long Biên mà một thi sĩ đã chúng
tatụng trong một bài Ðường luật:
Long Biên đã đắp tự đời nào?
Chẳng thấp nhưng mà cũng chẳng cao.
Chăm chăm ngoại thành xây cũng đẹp,
Cồn cồn dòng nước chảy tuôn vào.
Long Biên đã đắp tự đời Cao biền, nhà thơ Thăng Long cũng chẳng thèm
biết. Ðến cả hai chữ Cao Biền, thử hỏi trong dân chúng, mấy ai còn nhớ, nếu
đó không là một tên thầy địa lý cao tay mà mọi người khiếp sợ. Môn chính
trị xa họ bao nhiêu thì môn địa lý gần họ bấy nhiếu, gần với tín ngưỡng và
tập quán của họ. Nếu Cao Biền chỉ là một chính khách khôn khéo, một nhà
tổ chức có đại tài, thì y đã chết từ lâu trong ký ức dân Hà Thành rồi. Phần dã
sử hầu hoàn toàn chiếm lấy cái đời lạ lùng của nhà đô hộ. Mà phần dã sử ấy
– nghĩa là thiên sử ký phong phú nhất, thật nhất vì sản thực, chất phác của
dân - phần dã sử ấy không ra ngoài môn địa lý. Nào chuyện “Cao Biền dậy
non” nào chuyện “Cao Biền cưỡi diều đi tìm đất”, nào chuyện “Thần Tô
Lịch hiện lên mách đất cho Cao Biền”. Bao nhiêu chuyện kỳ dị biến đổi tùy
theo tài tưởng tượng của từng người kể, mà trong đó, môn chính trị của Cao
Biền không dấu hết.
Cao Biền xa ta quá và đã hầu là một nhân vật hoang đường. Ðến như những
nhân vật gần chúng ta hơn mà sử ta đã ghi chép tường tận những huôn công
võ lược, cũng không còn có vang bóng gì trong trí nhớ dân chúng Hà Thành
và Nam Việt. Dễ mấy ai biết rằng trên sôgn Nhị kia, dưới gầm cầu “Dốc
gạch”, hàng trăm thuyền lớn của Chế Bồng Nga đã chen chúc đậu và từ đó
hàng nghìn vạn quân Chiêm Thành, cởi trần, da nâu và bóng như đồng mắt
cua, đã giương nỏ mạnh bắn những tên lửa lên các phố, các phường, đẩy dân
thành thị tranh nhau chạy loạn?
Rồi tới nhà Lê, họ Mạc, họ Trịnh kế tiếp nhau xây dựng lâu đài bên hồ Tây
và hồ Hoàn Kiếm. Thì nay cũng chỉ:
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Trong lòng người vẫn ghi nhớ những điều muốn ghi nhớ, những điều thuộc
phạm vi mỹ thuật, và tình cảm – Lòng người coi thường trận thủy chiến kinh
thiên động địa. nhưng lòng người đã không quên cái tình cảnh đáng thương
của một nàng công chúa nhà Trần lọt vào tay anh Chàm đen đủi:
Công chúa lấy thằng bán than,
Nó đưa lên ngàn cũng phải lên theo.
Người Hà Thành đọc lại câu chúng tadao cổ gần nghìn năm, tác phẩm của
một văn nhân Thăng Long đầy trắc ẩn còn như đứng bên bờ sông Cái mà
nhỏ lệ trôgn theo nàng Huyền Trân sừng sững trên sân lái một chiếc thuyền
bồng giương buồm, thuận gió chạy ra biền để xuôi Nam. Hình công chúa
thon thon in bật lên nền trời sắc máu. Và dân Thăng Long chờ cho con
thuyền lượn khuất sau cồn Phúc Xá mới chịu rời bước trở về nhà ngậm ngùi
than tiếc:
“Ngọc quí ngâu vầy!
“Thương thay cây quế giữa rừng,
Ðể cho thằng Mán thường Mường nó leo.”
Ðối với dân Thăng Long, cũng như dod61i với dân Hà Thành ta ngày nay,
rất mập mờ về khoa địa dư: người mạn ngược hay người Chàm, người Mên,
họ đều cho là Mán là Mường cả.
Vào thời giữa hai triều Trần và Lê dân Thăng Long hẳn là lao đao khổ sở
hết chạy loạn Hồ đến chạy loạn Minh. Nhưng rồi người ta cũng chỉ ghi vào
nhật ký, vào sử ký - sử ký đã gợi những việc tức cười đau đớn:
- Cái nợ Liễu Thăng!
- Và cái chết của Nguyễn Trãi gây nên – theo lời dã sử - do sự báo oán tiền
kiếp của một cô gái Tây Hồ bán chiếu, một nữ thi sĩ tinh nghịch cười đùa
như Xuân Hương:
Em ở Tây Hồ bán chiếu gon,
Chồng còn chưa có, hỏi chi con?
Dân Hà Thành ta từ xưa vẫn thích cười; cười buồn cũng như cười vui.
Thỉnh thoảng lại phá lên một tiếng cười bi ai chua chát hay tiếng cười lờm
của Cống Quỳnh về thời hậu Lê dưới quyền hống hách của chúa Trịnh. Và
không biết ai đã thốt ra một câu ca dao quá quắt để mỉa mai ông quan thị mà
chúa Sầm giao cho cái trọng trách canh phòng một nàng công chúa yêu?
Ðó là cách viết sử của chúng ta. Nếu nói được rằng nhà sử đích đáng là biết
chép những điều đáng chép và bò những điều đáng bỏ, thì các sử gia Thăng
Long thực đã làm tròn phận sự, đã chép những cái hoàn toàn có tích cách
Thăng Long và Nam Việt. Còn gì Nam Việt hơn Truyện Tấm Cám hiện nay
vẫn lưu truyền ở cửa miệng, từ thành thị cho chí thôn quê. Ðó là một truyện,
một việc Thăng Long, đã xảy ra trên đất Thăng Long:
Nhưng phải chờ hàng chục năm nữa, mới thấy được những nhà biên tập cho
cuốn sử Hà Thành có tên có tuổi để lại hậu thế. Ðó là nàng Xuân Hương, rồi
chàng Tú Xuất, chàng Ba Giai.
Chúng ta đi qua chùa Quán Sứ, ai mà giữ được không thầm đọc bài thơ
tuyệt tác của Xuân Hương, tuy chùa Quán Sứ ngày nay chẳng còn nữa cái
cảnh vắng teo, cái cảnh:
Sáng banh không kẻ khua tàng mít,
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Tôi chắc không nơi danh thắng Hà Thành nào lại không có vết tích các nhà
văn yêu Thăng Long ấy, lại không được dự một phần vào cuốn sổ nhật ký,
vào tập văn tùy bút của họ. Có lẽ chỉ vì không người gìn giữ cho nên những
ông văn quý báu đã thất lạc mất cả, những áng văn và người đạo mạo đồng
thời coi thường là văn chương đùa bỡn hay nhỏ mọn, không đáng kể, không
đáng lưu lại hậu htế…
Ðến thời chúng ta. Ðến Tú Mỡ và Thạch Lam…
Như Ba Giai, Xuân Hương (cùng một họ Hồ với Tú Mỡ), Tú Mỡ đã giễu
các nhân vật Hà Thành và khiến cho họ bất hủ. Tú Mỡ yêu Hà Thành chẳng
kém bọn Tú Xuất và Xuân Hương, trở thành tinh quí, ranh mãnh, ngạo người
yêu Hà Thành thấm thía hơn, âm thầm hơn là Thạch Lam.
Cũng có lúc Thạch Lam mỉm cười thương hại như Cống Quỳnh, như Xuân
Hương trước cái dốt Hà Thành, trước những cái biển bằng chữ Pháp rất lố
lăng và dốt nát của các bác pho cạo, của các ông hàng vải. Thạch Lam lại
cũng tức giận như Xuân Hương khi thấy người ta vô tâm hay hữu ý làm mất
vẻ đẹp nơi thành phố xinh xắn của chúng ta.
Xuân Hương viết:
Ai về nhắn nhủ phường lối tôi,
Muốn sống đem vôi quét trả đền.
Và Thạch Lam thủ thỉ - bao giờ Thạch Lam cũng chỉ thủ thỉ, dù tức giận
đến đâu:
“Những thanh sắt ở đó (chùa Ngọc Sơn) cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa
thấy ông bạn nào đó làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị nghĩa là bỏ những cái
đó đi là xong.”
Nhưng Thạch Lam lưu tâm nhất đến cuốc sống hàng ngày của Hà Thành
đến những cái thứ cõn con của dân thành phố, cùng là những nhân vật bé
nhỏ, đã gây cho thành phố cái tính cách đặc biệt của nó.
Ta hãy nghe Thạch Lam mở mục quà Hà Nội với một giọng yêu đương và
tự phụ của một dân Hà Nội: “Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng là ngon lành
và lịch sự. Ở các thôn quê, chút “quà Hà Nội” là của mong đợi, và tỏ được
lòng quý hoá của người cho…”
“… Nếu chúng ta về các tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Ðịnh
nữa, chúng ta mới biết quà Hà Nội có vị ngon là chừng nào! Cũng là thứ bún
chả chẳng hạn, cũng rau ấy, bún ấy thế sao mà bún chả của Hà Nội ngon và
đậm thế, ngon từ cái mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi”.
Ta như nghe thấy tiếng nhai và tiếng xuýt xoa của người ăn bún chả. Ngon
thật! Và cái ngon, cái đặc sắc của Hà Nội ấy đáng được người ta nói đến và
chép lại như người ta đã nói, đã chép lịch sử bà Ba Tý, bà Tư Hồng, hai nhân
vật Hà Nội nhất của thời nay.
Và Thạch lam đã nói đến, đã ghi chép tường tận đầy đủ, tỉ mỉ với tất cả tấm
lòng yêu của Thạch Lam. Thạch Lam yêu cũng như Thạch Lam ghét đều tha
thiết tuy âm thầm.
Thạch Lam thực là một nghệ sĩ, một thi sĩ về khoa thẩm vi. Nghệ sĩ muốnt
ận hưởng. Thi sĩ tìm cảm hứng trong vi tế cũng như trong vĩ đại. Hiểu nổi
Thạch Lam tất đã phải biết như Thạch Lam rằng: “Ăn quà là một nghệ thuật,
ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy mới là người sành ăn. Tất phải
đứng ngắm nghía cô bán bánh cuốn Thanh Trì, dáng điệu uyển chuyển gánh
hàng đi vào trong phố hay ngồi nhanh nhẹn bóc từng cái bánh mỏng như tờ
giấy và trong như lụa.”
Thạch Lam không quên một thứ quà rong nào, mỗi thứ Thạch Lam đều tả
hết cái hương vị, cái hình thức đặc biệt của nó, hương vị và hình thức truyền
lại không biết tự đời nào. Nếu Thạch Lam thích làm thơ thì hẳn đã viết
những bài Ðường luật hay tứ tuyệt để vịnh chiếc bánh “bánh rán nóng một
xu hai” hay “cô hàng cơm nắm lẳng lơ với hai quang thúng bỏ chùng trông
cũng ngon mắt như quà của cô vậy”. Y như những bài thơ vịnh bánh nhồi,
vịnh bánh trôi của Xuân Hương. Biết đâu Xuân Hương cũng không cảm
hứng trong khi xơi quà Hà Nội mà đọc ra những bài thơ lưu truyền kia!
Thạch lam không làm văn vần như Xuân Hương. Nhưng tứ thi phong phú,
màu sắc sáng tươi, nét vế nhịp nhàng, đã khiến nhiều đoạn văn xuôi của
Thạch Lam trở nên những bài thơ kháu khỉnh. Ðây ta hãy nghe Thạch Lam
tả về quà bún ốc:
“Có ai, buổi trưa vắng, hay lúc đêm khuya, đi qua nhà cô đào, nhà các chị
thanh lâu, thấy họ ăn cái quà ấy một cách chăm chú và tha thiết đến đâu
không? Nước ốc chua làm nhăn nét mặt tàn phấn và mệt lả: miếng ớt cay
làm xoa xuýt những cặp môi héo hắt, và khiến đôi khi nhỏ những giọt lệ thật
thà hơn cả những giọt lệ tình.
“Cô hàng ốc có một cái dụng cụ, một đầu là búa, một đầu là dùi nhọn. Một
cái gõ nhẹ và một cái trở tay, là con ốc nguyên cả ruột đã gọn gàng rơi mình
vào bát nước chấm. Cô thoăn thoắt rút ốc không kịp. Trông thấy người ta ăn
ngon lành, chính cô cũng sinh thèm: cô thú thật với tôi như thế.”
Biết bao ghệ thuật trong một bức tranh nhỏ mọn nhưng tinh tế. Và đến
được nghệ thuật ấy không phải chỉ có tài, mà còn phải có lòng yêu, yêu
thành thực, yêu trong thâm tâm, yêu những cái bé bỏng của những đời bé
bỏng, nghĩa là yêu Hà Nội, vì những cái bé bỏng ấy tức là tất cả Hà Nội.
Thạch Lam vĩnh biệt Hà Nội giữa một công cuộc mà anh đã tỏ ra có đủ tài
năng để theo đuổi tới đích: công cuộc soạn một pho Hà Nội du ký. Nếu anh
còn rán ở lại với chúng ta, thì ngòi bút linh động của anh tả cái Hà Nội hiện
thời này, hẳn phải làm chúng ta…
Khái Hưng
29-7-43
Hà Nội băm sáu phố phường
Người Pháp có Paris, người anh có London, người Tàu có Thượng Hải…
Trong các sách vỡ, các báo chí, họ nói đến thành phố của họ một cách tha
thiết, mến yêu… Ta phải nghe người Pháp nói đến Paris, người ở Paris mới
hiểu được sự yêu quý ấy đến bực nào.
Chúng ta cũng có Hà Nội, một thành phố rất nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp
thật (chúng ta chỉ còn tìm những vẻ đẹp ấy ra), và cũng vì chúng ta yêu mến.
Yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội , cũng như người Parisien chính
hiệu yêu mến Paris… Trong những cuộc phiêu du - phiếm du ngoài các phố
Hà Nội là một cái thú vô song chỉ người Hà Nội có – ta nên chú ý đến
những nét thay đổi của thành phố , nên nhận xét những vẻ đẹp cũng như vẻ
xấu của phố phường, thân mật với những thú vui chơi, hay những cảnh lầm
than, với những người Hà Nội cũng như ta. Hà Nội có một sức quyến rũ đối
với các người ở nơi khác… Ở những hang cùng ngõ hẻm của làng xa, hay
những nương mật thẳm trong rừng núi, ban chiều vẫn có nhiều người ngóng
về một phương trời để cố trôgn cái ánh sáng mờ của Hà Nội chiếu lên nền
mây. Ðể cho những người mong ước kinh kỳ ấy, và để cho những người ở
Hà Nội, chúng ta nói đến tất cả những vẻ riêng của Hà Nội, khiến mọi sự đổi
thay trong ba mươi sáu phố phường đều có tiếng vang ra khắp mọi nơi.
Thạch Lam
Những Biển Hàng
Ðã có nhiều người nhận ra rằng phố Hàng Ðào là của… loài vật. Ở đấy, có
đủ để làm một gánh xiếc. Trước hết có hiệu trâu vàng, hẳn thế. Ấy là câu
chuyện huyền thoạicủa ông Khổng Minh Không đã được hình tượng ra bằng
hai cái biển. Rồi đến hiệu bò vàng, cá chép vàng (cá chép hóa long thì đúng
hơn và con cá này đã trái tật chạy lên Hàng Ngang rồi), con lạc đà không
biết đến đây để làm gì?, con gà sống kim kê hẳn thôi, con hươu sao, con kỳ
lân, con phượng (lai hoàng), con rùa rùa (kim quy), con rùa rùa này về núi
rồi, con vịt che ô, con voi (con này cũng về rừng), và con tê giác. Các nhà
hàng còn lâu mới dùng hết được tên các loài vật. Và chúng ta nên nhận rằng
trong các con vật đã dùng, không có con nào dữ cả. Con tê giác thì kể là vật
dữ, nhưng con tê giác ở Hàng Đào thì lành lắm: nó không cắn ai bao giờ.
Không có hổ vàng hay sư tử vàng, chẳng hạn. Vì những con vật trên kia là
những con vật thần linh chăng, hay là những con vật chỉ lành có thể gợi lòng
tin của khách mua? Con trâu, con hươu, con bò ... Những con vật này có làm
hại được ai bao giờ đâu? Vào nhà con trâu, con hươu mua vải, lụa, chắc
không bị hớ, chắc sẽ được nhà hàng tiếp đãi niềm nở và tử tế (như các bà
bán hàng Việt Nam biết tiếp khi khách chỉ mặc cả mà không mua, hay muốn
mua mà trả rẻ), và nếu họ có bị dại như một con bò thì cũng được an ủi rằng
ít ra cũng là một con bò vàng.
Tôi chỉ không hiểu tại sao bỗng dưng lại có con lạc đà. Con vật này hình
như lạc loài vào đám ấy, giữa những con vật mà nó không quen bao giờ.
Người phương Tây khinh ai thường gọi: cái anh lạc đà ấy ... Theo nghĩa đó
thì con lạc đà ám chỉ nhà hàng hay khách mua hàng?
Chúng ta còn phải hỏi tại sao con vật khác không được dùng, và tại sao địa
phận chúng chỉ có phố Hàng Đào thôi. Lên đến Hàng Ngang, xuống đến Bờ
Hồ, là đã không có loài vật rồi (con cá hóa long lên Hàng Ngang là trái với lẽ
trời).
Có một người kể chuyện với tôi rằng đó là tại nhà hàng ganh tị nhau.
Nguyên hồi bấy giờ phố hàng Đào còn hẹp, nhà hai bên phố không cách
nhau xa mấy. Có hai ông chủ hiệu to, ngẫu nhiên một hôm cùng có một ý, là
lấy con hươu làm biểu hiệu. Hai con hươu cùng treo một lúc. Có nhiều sự
nhầm lẫn xảy ra về sau, nhưng hai ông cùng ganh, không ông nào chịu đổi
con khác. Như thế được một năm. Rồi bỗng nhiên, một ông lấy ngay con báo
làm biểu hiện, và phao ngôn lên rằng chỉ ít lâu bữa làbáo sẽ cắn hươu chết.
Ông chủ hiệu kia tức khí lấy biển hiệu con hổ và phao ngược lại.
Ông chủ hiệu này chẳng chịu kém đổi ngay con báo ra con sư tử. Ông kia
cũng lập tức đổi ra con voi.
Đến con voi thì ông này tức quá: vì không có con nào khỏe hơn con nữa.
Voi đứng đầu trong giống vật rồi. Chỉ có cách làm con voi hơn. Thế rồi ông
làm con voi to hơn. Ông kia cũng chẳng chịu kém, lại làm con voi to hơn
nữa. Hai con voi cứ thi nhau mà to mãi ra. Phố thì hẹp, cho nên một ngày kia
hai con voi đụng vòi nhau, lấp cả lối đi.
Việc đến cửa quan. Ông quan phân xử, bắt voi hai bên đều bé lại, và ra lệnh
từ đấy chỉ được dùng những con vật hiền (như voi chẳng hạn) làm biển hàng
mà thôi. Những con vật dữ như báo, hổ, gấu, mèo ... đều cấm tiệt.
Ấy là người ta kể cho tôi nghe câu chuyện như thế. Chuyện chả biết có thật
hay bịa, nhưng giảng tại sao người ta không dùng các thú vật dữ thì có (tuy
vậy, con tê giác?), còn tại sao các vật chỉ có phạm vi phố Hàng Đào, không
lên Hàng Ngang, không xuống Bờ Hồ, thì tuyệt nhiên không.
Người Ta Viết Chữ Tây
Cái biển hàng nào viết bằng chữ Pháp đầu tiên treo ở phố Hà Nội? Thật khó
mà biết được. Nó là một điều thuộc về lịch sử cần phải tìm ra, để đánh dấu
cái ngày mà một con người Việt Nam bắt đầu dùng thứ chữ phong phú nhất
phương Tây.
Từ bấy đến nay, ít ra cũng ngoài sáu chục năm. Sáu chục năm người mình
học chữ Pháp, tưởng đã đến lúc thâu thái được hoàn toàn. Bây giờ các biển
hàng viết chữ Pháp chiếm đến chín phần mười trong các biển hàng. Nhiều
hàng, tuy chỉ giao thiệp với khách hàng Việt Nam thôi, cũng để toàn chữ
Pháp, cũng như ngày xưa họ toàn dùng chữ nho.
Ngày tôi còn nhỏ, ông thầy dạy vẽ của tôi bỏ nghề ra mở một xưởng vẽ ở
phố Bờ Hồ. Ngoài cửa hàng treo một cái biển vẽ một cái gái rất xinh chỉ tay
vào mấy dòng chữ. Vì cô gái, tôi đi học về lần nào cũng đứng lại nhìn, và vì
vậy mới thuộc mấy dòng chữ đó đế bây giờ. Mấy dòng chữ như thế này: "Ici,
il existe un dessinateur portraitiste, aquarelliste et architecture".
Đã hơn mười năm rồi, mà mỗi lần nhớ đến câu chữ Pháp ấy tôi cũng không
khỏi buồn cười. Nhân thế hôm nay tôi nẩy ra cái ý muốn dạo qua tất cả Ba
mươi sáu phố của chốn "nghìn năm văn vật" này để đọc các biển hàng chữ
Pháp, và xem người mình dùng chữ Pháp đã tiến bộ đến bậc nào.
Thì quả thực đã tiến bộ rất nhiều:
Này đây những biển: Salon de coiffeur, X ... bon coiffure, T.D. Coiffeur de
Beauté, hay; M. librairie, mercerie, relieur, M.S. Prothèse dentaire, Beauté
hygiénique de la bouche, M.S dorure et dargenture, T.T fabricateur de
pousse pousse, T.O vente et réperateur de machine de tout sorte, D.T.
Ferronnerie, quinconnerie, H. Vanerie, O. Serée, Filets de sports. Chữ
Élégant hình như được nhiều người yêu chuộng nhất: vì tỏ ra élégant có phải
không?
P.T. Coiffeur élégant (Bạch Mai), Boulangerie élégant (Hàng Bông), A la
coupe de Paris - D.M. tailleur élégant (Hàng Quạt), Aux paradis des élégant
... (Lê Quý Đôn), hiệu này đâu trước là: Au gout des élégant ... P.T. Tailleur
des élégants (Hàng Quạt) ...
Toàn những Élégancel à Élégance, thật xứng đáng với (Hà thành hoa lệ).
Và tôi nhận thấy, nội trong các hiệu dùng nhiều chữ tây nhất, và dùng một
cách đáng yêu nhất là hiệu thợ may. Có lẽ vì các ông chủ hiệu đó may quần
áo cho thiên hạ nên họ tự nghĩ như bắt buộc phải dùng chữ Tây mới họp
thời.
Một hiệu khoe các hàng: "Dernìeres nouveautés de Paris: laine Elboeuf,
laine Red Star, laine Dormeuse ..." (qui fait bien dormir - hẳn thế).
Hiệu kia: "lanine pieds de poule Prince de gales".
Một hiệu khác tham bác cả Tây lẫn ta, và tạo nên một cái tiếng thần tình
này: Satin súp.
Nhưng đến tên các hiệu thì sự văn hóa và cầu kỳ thực đã đến cực điểm: "Au
parfait tailleur" (Hàng Bông), "Maitre tailleur", "Paris tailleur" (Hàng Quạt).
Chữ luxe, chắc hẳn trong trí các ông chủ hiệu thợ may, là biểu hiện của cái
tuyệt đích trong sự sang trọng, nên có đến ba ông dùng: La Mode, tailleur de
luxe, D.P.T tailleur de luxe (Hàng Gai), Tr. tailleur de luxe (Lê Quý Đôn),
(ông này viết là luxe không có e, ý chừng tỏ ra luxe một bậc nữa). Nhiều ông
khác ưa tỏ ra biết tiếng ngoại quốc hơn. Modern tailor (chợ Hôm),
Gentlemens modern tailor (hiệu chỉ có một cái máy khâu cũ và tấm vải xanh
che bên ngoài) và CH. R Gents? tailor (Hàng Trống) ...
Thế cứ tưởng đã đủ rồi. Ca va, taileur! (Hàng Trống), De la tenue, tailleur
et de la frantaisie, tailleur (Hàng Trống).
Rồi lại còn: D.T. Spécialist des chemises et des pyjamas; T.L. Coupe
incroyable aux pyjamas dirigée par S ...
Nếu một ngày kia chúngta thấy đề: X. Tailleur, prix, soigne, trvail
impeceable, coupe modérée, thì cũng chẳn nên ngạc nhiên tý nào.
Nhưng hòn ngọc đẹp nhất có lẽ phải dành riêng cho hiệu này ở phố Hàng
Buồm: L.S. photographe, marchande de Chinoiserie.
Ấy là mới dạo qua một vài phố đông đúc, chúng ta đã được đọc nhiều câu
chữ Pháp lạ lùng như thế rồi. Ở các hang cùng ngõ hẻm, đối với người tò
mò, hẳn còn tìm thấy nhiều cách áp dụng chữ Pháp một cách thần tình hơn
nữa.
Nhưng ngẫm kỹ ra thì cũng chẳng nên lấy làm lạ, vì ở một xứ có tờ báo
(nghĩa là do hạng trí thức viết), dịch Hôtel de ville là khách sạn của thành
phố và Stars à Hollywood là dân tộc Star ở Mỹ châu, thì các ông chủ hiệu
trên kia kể còn là giỏi nhiều.
Mà, có phải không, tờ bao Phụ nữ tân văn ở trong Nam đã treo biển "Le
Journal des Dames", và tờ Phụ nữ thời đàm ở ngoài Bắc, "La premìere
organe de la femme Annamite"? .
Hàng Mứt, Hàng Đường, Hàng Muối Trắng Tinh
Hà Nội đã thay đổi nhiều lắm. Những phố cũ, hẹp và khuất khúc, với những
nhà thò ra thụt vào, những mái tường đi xuống từng bậc như cầu thang,
những cửa sổ gác nhỏ bé và kín đáo, đã nhường chổ cho những phố gạch
thẳng và rộng rãi, với từng dãy nhà giống nhau đứng xếp hàng. Thẳng và
đứng hàng, đó là biểu hiện của văn minh. Khi ông cầm lái chiếc ô tô thì ông
lấy làm dễ chịu vì đường rộng, vì phố thẳng lắm. Nhưng đối với người tản
bộ đi chơi, lòng thư thả và mải tìm sự đẹp, thì phố xá mới không có thú vị gì.
Không có những cái khuất khúc dành cho ta nhiều cái bất ngờ, không có một
ngọn cây hoa nhô sau bức tường thấp, khiến chúng ta đoán được cả một thửa
vườn nhỏ bên trong, ở đấy biết đâu lại không thướt tha một vài thiếu nữ khuê
các như xưa.
Chỉ còn một vài cái ngõ con ... ngõ Phất Lộc, ngõ Trung Yên ... mấy ngọn
cỏ trên mảnh tường cổng ô Quan Chưởng, là gợi dấu vết của Hà Nội cũ.
Ngày ấy, đường hẹp, chắc hàng xóm láng giềng ăn ở với nhau thân mật hơn.
Người cùng hàng phố tự coi như có một liên lạc cùng nhau. Bên này một cửa
hàng tạp hoá có đầy đủ quả sơn đen, có chồng giấy bản và ống bút nho, có
cô hàng thuỳ mị mà hàng phố vẫn khen là gái đảm đang. Bên kia, nhà một
ông cụ Tú, có tiếng trẻ học vang, có cậu học trò xinh trai đứng hầu chè thầy
bên tràng kỷ.
Những nhà cũ của ta có một lối kiến trúc riêng. Ở các phố Hà Nội hiện giờ,
thỉnh thỏang cũng còn được một vài nhà. Giữa nhà, mảnh sân vuông lộ thiên,
có bể non bộ và cá vàng, có dãy chậu lan, có bể đựng nước, và trên tường có
câu đối chữ nho. Đôi khi đi qua, một cánh cửa hé mở, chúng ta được thoáng
nhìn vào; bóng một thiếu nữ nhẹ qua sân, hình dáng một ông cụ giàcúi mình
trên cây cảnh. Tất cả cuộc đời của những kẻ bên trong, cuộc đời xưa, những
ý nghĩ cũ, những hy vọng và mong ước khác bây giờ.
Không còn gì của Hà Nội ngoài năm sáu mươi năm trở về trước. Thăng
Long của vua Lê, của chúa Trịnh không còn dấu vết nào: đâu còn những
cung điện ngày xưa, những phụ đế của các bậc công hầu khanh tướng?
Thỉnh thỏang một vài tên gọi còn nhắc lại, một vài đống đất còn ghi dấu, thế
thôi. Chúng ta không biết được mấy về dĩ vãng, về cảnh phố xá kinh kỳ hồi
cụ Lãn Ông, một túi thơ, một bồ thuốc, đi từ Bát Tràng đến Hồ Tây để chữa
cho hoàng tử.
Trong một bài báo, tôi đã nói (Hà Nội XVII ẻ sìecle) rằng cái "nghệ thuật
biển hàng" ở Hà Nội đã mất. Ngày xưa, cái biển hàng còn là một cái gì hơn
không chỉ là một cái biển hàng mà thôi. Đó là một bộ gì liền với cơ nghiệp
và số vận của người buôn, cái biển hiệu thực hiện của những cố công nhẫn
nại và những đức tính ngay thật của chủ hàng. Đề biển phải chọn ngày tốt,
phải xin chữ của những người viết giỏi có tiếng, và người ta thận trọng giữ
gìn như một thứ của gia bảo ở những cái biển cũ đã tróc sơn, mà gió mưa
bao nhiêu năm đã làm lạt cả vàng son, những nét chữ mạnh mẽ và rắn rỏi
vẫn còn như nguyên mới. Tôi không khỏi bao giờ đi qua không dừng bước
lại ngắm ngía ba chữ đại. "Vạn Thảo Đường" trên cái biển cũ kỹ của hiệu
thuốc ấy ở đầu phố Hàng Đường.
Ba chữ "Đông Hưng Viên" cũng sắc nét và còn mới hơn. Ngày trước còn
mấy chữ "Cộng Hòa Đường" viết bằng son đỏ tươi, lối nửa chân nửa lệ, chữ
bay bướm, trông đến thích cả mắt.
Nhưng bây giờ người ta đã xóa đi để thay vào bắng lối chữ "vuông tân
thời" trong các quảng cáo ở báo Tàu hay bằng những chữ điện tím hoa cà,
xanh lá mạ đêm đêm sáng ngời một góc trời. Tất cả cái gì cũng thay mới
người ta không những thấy có biển hàng, người ta thấy cả bề mặt cái cửa
hàng nữa. Và sự thay đổi bề ngoài ấy đem đến cho phố xá Hà Nội một vẻ
mới riêng, hơi lạ lùng và đột ngột.
Trong đêm khuya, chúng ta thử dạo chơi các phố, lúc đó không bị những
ánh sáng và thức hàng làm lóe mắt. Lúc đó những cửa hàng mới mẻ đã đóng
cả, và cái phố với căn nhà đều phô bày vẻ thật. Các nhà chỉ thay đổi có phía
dưới sự thay đổi ít khi lên đến tầng trên. Và bây giờ, nếu người ta có phép gì
cắt bỏ các tầng dưới và đặt các tầng trên xuống đất, chúng ta sẽ có một hàng
phố cũ kỹ với những hàng bát quái, mảnh gương và dơi bay một phố từa tựa
như phố của kinh kỳ xưa, chắc thế.
Có một bạn nào trông coi về vẻ đẹp của thành phố Hà Nội không? Hình
như có thì phải, tuy rằng bạn đó không thấy làm cho người ta nói đến mình.
Nhưng cái đó không hề gì, miễn là bạn đó cứ làm việc là đủ.
Ngày trước, ở trước cửa phủ toàn quyền, còn có một nhóm tường mà người
ta đã phá đi rồi, cách đây đâu mười năm gì đó. Nhóm tường đó trông xa
giống như mâm xôi; ở đỉnh có những hình thù gì, tôi không nhớ, nhưng ở
phía dưới, có tượng hai người đàn bà nằm choài ra như bơi, tóc buông xõa và
lẩn mình vào thành bể. Hai người đàn bà đó người ta bảo là hình dung hai
con sông Nhị Hà và Mêkông.
Chúng ta tưởng tượng phong cảnh hồ Hoàn Kiếm với cái mâm xôi bằng đá
lù lù ấy. May thay không biết có ai phản đối, người ta bỏ cái dự định ấy, và
đem nhóm tường dựng ở trước cửa phủ Toàn quyền, để rồi sau đó ít lâu phá
đi.
Sự phản đối ít lợi ấy có lẽ là công việc của ủy ban coi về vẻ đẹp của thành
phố hẳn?
Sau đó ít lâu, một dạo, ngay bên cổng của đền Ngọc Sơn, chúng ta được
trông thấy đứng sừng sững và thẳng tấp một cái cột dây điện chằng chịt và cả
đèn điện với những cái "bình tích" bằng sứ trắng, khiến cho cái cột sắt sơn
hắc ín đó như một thứ cây già mọi rợ vụng về. Cái cây đó làm cho vẻ đẹp
của cổng đền Ngọc Sơn giảm mất đến chín phần mười.
Nhưng lại may thay, cũng cách sau ít lâu, cái cột đó không còn nữa. Công
việc của ủy ban kia chắc thôi.
Sau đó ít lâu nữa, cảnh đền Ngọc Sơn lại chịu phải một sự thêm thắt xấu xa
khác.
Có lẽ theo lời yêu cầu của những ai trông nom cái đền đó, người ta đã cho
bắc suốt từ ngoài cổng, qua đầu, vào đến trong đền, những vòng sắt nền, có
những đường uốn lượn ngoằn ngoèo, cũng sơn hắc ín, và để mắc đèn.
Mắc đèn cho sáng, cho tiện những người đi lễ đền. Một ý tốt, rất tốt. Nhưng
sao lại phải trả bằng một cách bôi nhọ vẻ đẹp của đền thế? Muốn sáng cổng
và sáng cầu thì thiếu gì cách: mắc đèn vào những chỗ lõm khuất khúc của
cổng và của cầu: đèn để như thế vừa được kín đáo, vừa không làm giảm vẻ
đẹp, không kể cái lối ánh sáng đập lại ấy dịu dàng và làm tôn cảnh đền hơn
lên.
Đằng này, mắc những võng sắt với cánh hoa hoét rẻ tiền kia vào cái cổng
đẹp đẽ có lối kiến trúc riêng, có vẻ cổ sơ ấy, thực là một cách đập phá mỹ
thuật tai hại không gì bằng.
Cho cả đến ba chữ "Ngọc Sơn Tự" bằng sắt dán trên một tấm lưới cũng sắt,
và có hoa lá cũng sắt nốt, cả cái biển ấy cũng chướng mắt không kém.
Những thanh sắt ấy ở đó cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa thấy cái ủy ban
nào đó nếu ủy ban ấy có làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị: nghĩa là bỏ
những cái đó là xong.
Dạo này, người ta đã xây nhiều bóp cảnh sát phụ ở lác đác khắp Hà Nội,
Yên Phụ, Cửa Nam, Bờ Hồ, Quan Thánh ...
Kiểu bóp như là một cái hòm vuông bốn góc thẳng cạnh, có cửa vào (tất
nhiên) và cửa sổ. Việc xây các bóp ấy chắc là ít lợi nhiều cho việc trị an của
thành phố. Chúng tôi xin cũng nhận thế. Và chỗ đặt bóp chắc cũng đã lựa
chọn rất tiện lợi nữa.
Những bóp khác, chả nói làm gì. Duy chỉ có cái bóp ở Quan Thánh, là làm
giảm mất vẻ đẹp của ngôi đền đẹp đẽ ấy.
Tuy rằng người ta đã cẩn thận cho cái bóp ấy đại để vẫn hình vuông một
hình dáng muốn giống chùa chiền bằng cái mái cong cong, bằng vài cái
trang điểm theo lối cũ. Nhưng mà cái chùa giả ấy trong đó thấy cảnh sát thay
nhà sư không đánh lừa được ai hết, nhất là người yêu mỹ thuật, yêu Hà Nội,
yêu cái vẻ cổ kính của đền chùa.
Chỉ quá một ít nữa, làm xa ra một tý nữa ở phía đường bên kia, hay ở ngay
vườn hoa đầu đường Quan Thánh, vườn hoa Eckert nếu tôi không nhầm, thì
có phải hay biết bao không. Gia chi dĩ, những đường vạch thẳng ngay ngắn
của vườn hoa ấy lại hòa hợp với cái hình thù vuông vắn của nhà bóp lắm.
Quà Hà Nội
Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng ngon lành và lịch sự. Ở các thôn quê,
chút "quà Hà Nội" là của mong đợi, và tỏ được lòng quý hóa của người cho.
Con cháu ngày giỗ ky đưa về dâng cha mẹ, hay các bà mẹ ra tỉnh mua về cho
các con, và chồng đi làm Nhà nước ngày nghỉ mua tặng cho cô vợ mới cưới
... Bao nhiêu ý tốt tình hay gửi vào trong chút quà nơi đô hội, món quà đem
đến cho khắp nơi các vị sành và trang nhã của băm sáu phố phường.
Hàng Quà Rong
Người Hà Nội, ăn thì ngày nào cũng ăn, nhưng thường không để ý. Nếu
chúng ta về ở tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng
ta mới biết quà ở Hà Nội ngon là chừng nào. Cũng là thứ bún chả chẳng hạn,
cũng rau ấy, thế mà sao bún chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái
mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi.
Trong một ngày, không lúc nào là không có hàng quà. Mỗi giờ là một thứ
khác nhau; ăn quà cũng là một nghệ thuật: ăn đúng cái giờ ấy và chọn người
bán ấy, mới là người sánh ăn.
Tang tảng sáng, tiếng bánh Tây đã rao, lẫn với tiếng chổi quét đường. Đó là
quà của những người thợ đi làm sớm. Rồi, có từng độ, phố xá vang lên tiếng
rao "bánh rán nóng, trinh một, xu đôi" của một lũ trẻ con. Cái bánh rán vừa
cứng và xấu, thật làm giảm thanh thế của quà Hà Nội, do một cửa hàng nào
đó muốn kiếm lời, cứ muốn bắt thiên hạ ăn bánh rán lúc còn ngái ngủ.
Này đây mới là quà chính tông: bánh cuốn, ăn với chả lợn béo, hay với đậu
rán nóng. Nhưng là bánh cuốn Thanh Trì mỏng như tờ giấy và trong như lụa.
Vị bánh thơm bột mịn và dẻo. Bánh chay thì thanh đạm, bánh mặn đậm vì
chút mỡ hành. Người bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt và rổ trên đầu, từng
tụm năm, bảy người từ phía Lò Lợn đi vào trong phố, dáng điệu uyển chuyển
và nhanh nhẹn.
Rồi mùa nực thì hàng xôi cháo: cháo hoa quánh mùi gạo thơm, xôi nồng
mùi gạo nếp. Xôi đậu, xôi lạc, xôi vừng mỡ và dừa. Ở, cái xôi vừng mỡ, nắm
từng nắm con, ăn vừa gậy vừa bùi. Mà có đắt gì đâu! Ăn một, hai xu là đủ
rồi. Mùa rét thì xôi nóng, hãy còn hơi bốc lên như sương mù, ăn vừa nóng
người vừa chắc dạ.
Và có ai ngẫm nghĩ kỹ cái vị hành khô chưng mỡ ở trong bát ngô nếp bung
non; hàng giòn và thơm phức, những hạt ngô béo rưới chút nước mỡ trong ...
Ngô bung (xôi lúa) thì có nhiều hàng ngon, nhưng ngon nhất và đậm nhất là
ngô bung của một bà già trên Yên Phụ. Cứ mỗi sáng, bà từ ô xuống phố,
theo một đường đi nhất định, đã ngoài hai mươi năm nay, để các nhà muốn
ăn cứ việc sai người ra đừng chờ. Bà đội thúng ngô, tay thủ vào cái áo ...
 





