Sách nói Kỹ Năng Sống Giúp Trẻ Phát Triển - Học Cách Tự Thoát Hiểm
Truyen co Andersen.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 10h:33' 26-07-2025
Dung lượng: 838.9 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 10h:33' 26-07-2025
Dung lượng: 838.9 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Truyện cổ andersen
Tổng hợp từ nhiều nguồn
Tạo ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Thư viện Sách Mới.Net
13/11/2012: 33 truyện
Bi kịch hồn nhiên trong truyện cổ Andersen
Lê Thị Thanh Tâm
Người ta gọi ông là “người kể chuyện cổ tích”. Còn ông tự nhận mình “giống như
người dân miền núi đục vào vách đá những bậc thang” để “chậm chạp và khó nhọc
tìm lấy một chỗ đứng của mình trong văn học”[1]. Ông là thiên tài kể chuyện Hans
Christian Andersen (1805-1875).
Andersen đã có một cuộc đời sáng tạo vĩ đại: ông là nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch, nhà
thơ, và đặc biệt là nhà viết truyện cổ tích. Sinh thời, ông làm bạn với V. Hugo, H.
Balzac, C. Dicken, H. Heine… Sinh trong nghèo khó ở thành phố cổ Ôđenzê nước
Đan Mạch, làm con của một người thợ giày bần hàn, tuổi thơ chìm đắm trong những
câu chuyện cổ tích do người cha và các cụ già trong khu dưỡng lao kể lại, những năm
tháng ngây thơ sống trong các trò chơi tưởng tượng, tâm lý và vóc dáng có nhiều nét
kỳ quặc, bị khinh rẻ và sống trong niềm tủi nhục…, Andersen đã trở thành ông vua
chuyện cổ mà tên tuổi bay khắp thế giới.
Bo Gronbech trong tham luận “Tại sao chúng ta nghiên cứu Andersen?” (Hội thảo
Andersen và Thế giới – Andersen and The World, 1993) đã nêu lên 9 nguyên nhân
cần phải tìm hiểu Andersen như sau: 1-Cuộc đời nhà văn, 2- Tâm lý kỳ lạ, 3-Thơ ca,
4-Sáng tạo cổ tích, 5-Nghệ thuật cảm thụ, 6-Ý niệm tôn giáo và triết lý nhân sinh
trong truyện cổ, 7-Việc biên tập, 8-Ảnh hưởng của Andersen đến văn hóa Đan Mạch,
9-Dịch thuật truyện cổ Andersen và phê bình tác phẩm Andersen ở nước ngoài. Ở
mục Sáng tạo cổ tích, Gronbech đặt ra câu hỏi về “bí ẩn kể chuyện” của Andersen khi
trộn lẫn những nhân vật–con người và nhân vật-sự vật với nhau. Và ở mục Ý niệm
tôn giáo và triết lý nhân sinh trong truyện cổ, Gronbech cũng kêu gọi chúng ta hãy
đọc Andersen không chỉ dưới ánh sáng Thiên Chúa giáo, mà dưới chủ âm triết lý
chung cuộc về đời sống con người mà Andersen thể hiện. Gợi ý này giúp chúng tôi
nghĩ đến một luận điểm nhỏ: phải chăng, có một lớp nghĩa mang nội dung bi kịch
trong truyện cổ Andersen thông qua sự trộn lẫn nhân vật-con người và nhân vật-sự
vật, và bi kịch ấy, trong dáng dấp truyện cổ tích, sẽ mang màu sắc hồn nhiên?
I. Bi kịch chọn lựa:
Chúng ta bắt đầu với câu chuyện Nàng tiên cá.
Nàng tiên cá khi có được tình yêu với con người (là chàng hoàng tử) thì bị rơi vào thế
phải đánh đổi: đánh đổi tiếng hát, giọng nói, và cao hơn là đánh đổi số phận của
chính mình, đánh đổi sự tồn tại để có được một linh hồn bất diệt. Nàng có hai lần phải
chọn lựa. Lần thứ nhất, khi đến gặp mù phù thủy, nàng buộc phải chọn lựa giữa việc
hy sinh tiếng hát, giọng nói để biến thành người và được gặp hoàng tử yêu dấu. Nàng
đã chọn sự hy sinh. Lần thứ hai, khi buộc phải giết chết hoàng tử trước lúc mặt trời
mọc để sống ba trăm năm đời cá thay vì sống trong tích tắc của kiếp người. Nàng đã
chọn kiếp người. Cuộc đời nàng tiên cá đã phải chọn lựa những thứ như sau: được làm
người, được yêu như người, và được chết như con người. Dấu hiệu duy nhất để nhận
biết điều ấy là đôi chân trần đau nhói trong mỗi bước đi. Những chọn lựa của nàng
tiên cá suy cho cùng đều là những quyết định bi kịch. Cái nàng đạt được và cái nàng
hy sinh đều hệ trọng như nhau. Nàng phải chọn trong đau đớn giữa cái phù vân và cái
vĩnh cửu, giữa thân phận bọt sóng vô tri và kiếp người đầy mất mát. Cái là phù vân lại
mang hình bóng vĩnh cửu (bọt sóng), cái tưởng là vĩnh cửu lại quá đỗi phù vân (làm
người).
Truyện Cái bóng kể cho chúng ta một sự chọn lựa khác. Người đàn ông trong truyện
(một nhà khoa học) có hai lần chọn lựa, nhưng đều kín đáo, đến nỗi nhà văn cũng
không nỡ nói cho chúng ta biết nhân vật đã quyết định chọn lựa từ lúc nào. Chỉ biết
rằng, có một lần, người đàn ông ấy thấy mình mất bóng. Quyết định chọn con đường
cho phép chiếc bóng ra đi mà không biết, người đàn ông trở nên đơn độc khủng khiếp
khi không còn bóng nữa. Cái bóng ấy sau những chuyến phiêu lưu li kỳ bỗng dưng
quay lại với địa vị con người thật. Nó giàu có, sang trọng, và thậm chí còn muốn lấy
vợ. Người đàn ông chọn lựa lần thứ hai, chấp nhận đổi thân phận mình làm bóng, và
cái bóng làm chủ lấy nhà khoa học. Buổi tiệc cưới tưng bừng của chiếc bóng ở cuối
truyện được đặt bên cạnh cái chết âm thầm của con người thật. Câu chuyện cổ tích
tưởng chừng ngộ nghĩnh này chất chứa một sự đánh đổi bi thảm của con người trong
xã hội hiện đại. Andersen đã sử dụng những chi tiết thần kỳ nhằm mang đến cho
chúng ta một ẩn dụ mới về sự bất lực của con người trong việc chăm bón cho hào
quang phù phiếm. Nhà khoa học viết về Chân Thiện Mỹ đã chết. Nhưng chiếc bóng
của ông ta thì vẫn sống, lấy vợ, giàu có, và giả vờ thương xót con người thật đã mất
kia. Bi kịch này có lẽ vẫn âm thầm xảy ra với bất kỳ ai trong chúng ta, khi nỗi sợ mất
bóng là ám ảnh lớn nhất trong đời.
Truyện Một bà mẹ lại dẫn chúng ta đến thế giới của tình mẫu tử. Người mẹ tội nghiệp
ấy cũng phải có ba lần chọn lựa khi mất đứa con thân yêu. Lần thứ nhất, người mẹ
khóc để đôi mắt trong veo của bà rơi xuống đáy hồ, khi ấy bà được hồ dẫn đường đến
ngôi nhà của Thần Chết. Lần thứ hai, người mẹ phải trao mớ tóc đen của mình cho bà
cụ đổi lấy mớ tóc bạc để được chỉ đường đến khu vườn kính của Thần Chết, nơi có
những bông hoa tượng trưng cho kiếp người. Cái gì đã dắt người mẹ đi xa đến thế,
đánh đổi nhiều đến thế, đó là tình mẫu tử, là việc tìm lại đứa con thân yêu. Nhưng
trong khu vườn, với đôi mắt trong veo được trao trả lại, người mẹ đã nhìn thấy bao
nhiêu thân phận sung sướng và bất hạnh trong những bông hoa. Và bà quyết định: để
cho con được chết. Lựa chọn cuối cùng này của người mẹ là dấu chỉ cho chúng ta đọc
được ý nghĩa bên trong của câu chuyện cổ tích. Người mẹ không muốn con mình thức
dậy vì bà không thể biết được cuộc đời thực sự của đứa con sẽ là khổ đau hay hạnh
phúc; bà không thể biết nếu con mình sống lại thì cái sống ấy liệu có làm người khác
phải mất con như bà không, có phải trả giá không. Vì không biết nên bà chấp nhận
cho Thần Chết mang con mình đi xa. Chúng ta, cũng như bà mẹ, không biết kết cuộc
mà Andersen dành cho người mẹ đau khổ đó là đúng hay không đúng. Cái chết từ đầu
câu chuyện vẫn chỉ là cái chết cho đến cuối câu chuyện, dù người mẹ đã phải mù lòa
đi hay già cỗi đi vì đau thương. Chúng ta bị chọn lựa cho cái chết, còn ý nghĩa cái chết
ấy vẫn là điều không thể biết.
Có thể nói, những mong ước trong truyện cổ Andersen đều thiết tha và hệ trọng.
Nhưng các nhân vật khi đạt được lại hiếm khi trọn vẹn niềm vui. Truyện của ông
thường không kết thúc trong khúc khải hoàn hoặc sự viên mãn, rằng từ đó trở đi,
những nhân vật ấy sẽ được hạnh phúc mãi mãi. Andersen đã làm ngược lại; cái đạt
được không phải là phần thưởng tuyệt đối cho đức hạnh hoặc tài năng, hoặc sự khốn
khó. Cái đạt được vẫn nằm trong chiếc bóng khổng lồ của định mệnh. Và nỗi buồn
vẫn tràn ngập, cho dù mơ ước đã thành.
II. Bi kịch trò chơi:
Andersen có nhiều câu chuyện cổ mà nhân vật là những đồ vật, động vật. Cách sử
dụng nhân vật như thế rất gần với loại truyện ngụ ngôn như truyện kể của Edôp hoặc
ngụ ngôn La-phông-ten. Nhưng tính chất ngụ ngôn của Andersen lại có thêm màu sắc
của tiểu thuyết, thể hiện ở chất đời thường tỏa khắp mọi chi tiết, kể cả những chi tiết
kỳ lạ. Chúng ta đọc thấy trong truyện Andersen lời khuyên chí tình của các con vật,
nghe lời kể của đồng silinh bạc, chiêm nghiệm đời anh bù nhìn tuyết, con quay và cái
bóng, chiếc kim thô, gã cổ cồn, con bọ chét, con chấu chấu, con nhảy, rồi xúc động
với anh lính chì, con chim và hoa cúc trắng… Nhân vật đồ vật và động vật trong
truyện Andersen như một kiểu mặt nạ. Ở đó, nhà văn tha hồ cho nhân vật của mình bị
hành hạ, bị bóc trần, bị thua cuộc… mà vẫn cứ là những chiếc mặt nạ, những trò chơi
của tuổi thơ…
Chúng ta sẽ đọc truyện cổ Andersen theo tính chất bi kịch của nó qua hai lớp nghĩa:
+ Lớp ngụ ngôn : xuất phát từ các nhân vật trò chơi. Đặc điểm này đáp ứng yêu cầu
cho trẻ thơ vì trẻ vốn yêu thích chơi đùa và đóng giả. Andersen đã cố ý tạo ra kiểu
truyện mang nghĩa kép: trò chơi và những giáo huấn tinh tế. Truyện có nhiều cách
ngôn mang tín hiệu ngụ ngôn như câu nói lặp lại ba lần của chàng Ruydi: “Nếu nghĩ
mình không ngã thì sẽ không bao giờ ngã”(Nữ thần Băng giá), hoặc câu “khi ở trên
cao thì người ta có thể mỉm cười”(Một chuyện đau lòng, hay “có kiên tâm chờ đợi thì
cuối cùng bao giờ vẫn được người ta đánh giá đúng với giá trị thực tế của mình”
(Đồng silinh bạc)…
+ Lớp tiểu thuyết: đó là lời kể về những cái thường nhật, thường trực. Hình ảnh về một
thế giới tầm thường, giả tạo, và liên tục trở nên phù phiếm đi song hành với những
ước mơ cao khiết, những biến cố kỳ dị, những thử thách và chết chóc chỉ có trong
thần thoại hay cổ tích khiến cho truyện cổ Andersen mang tính đa thanh. Hình vóc là
truyện cổ mà dư vang lại thuộc về tiểu thuyết. Nhân vật tưởng là mang mặt nạ ngụ
ngôn, nhưng tình huống và bi kịch của chúng lại trùng khớp với mọi biến cố tiểu
thuyết hiện đại.
Truyện Một cặp tình nhân kể về hai nhân vật: chú Quay và ả Bóng. Trong mối tình trò
chơi ngô nghê đậm màu sắc tưởng tượng này, người đọc bắt gặp ba chi tiết như sau:
một là lời thề, hay lời hứa, hai là sự đỏng đảnh của ả Bóng, ba là sự từ chối của chú
Quay trước một ả Bóng trương phềnh hết thời. Mối tình bắt đầu bằng sự thề thốt và
kết thúc trong bạc bẽo ấy ta hoàn toàn có thể tìm thấy ở bất kỳ nơi đâu trong xã hội
con người. Cái gì làm cho cặp tình nhân ấy chán chường nhau? Khởi đầu là do…một
cú đập bóng của lũ trẻ con. Cái lý do không đâu ấy ta cũng có thể tìm thấy ở bất kỳ
nơi đâu trên thế giới này. Những đổ vỡ phi lý, những đổi thay do thời cuộc, câu
chuyện nhân tình thế thái đã được Andersen lồng kín trong mấy trang giấy. Những đứa
bé ngây thơ sẽ cười ngặt nghẽo khi nghe Andersen kể về mối tình của hai thứ đồ chơi
vô tri kia. Còn người lớn thì ngậm ngùi hơn. Vì cái kết cục bi hài này không thể biết
được sẽ đến với ta vào khi nào: “Thế là Quay được sống lại cuộc đời vinh quang. Còn
Bóng thì bị quẳng ra ngoài phố. Quay chẳng bao giờ còn nhắc đến mối tình xưa nữa.
Khi cu cậu trông thấy cô ả trương phềnh lên vì nước mưa, nom rúm ró và gớm chết,
cụ cậu đã lờ đi, không nhận cô ả nữa”.
Cũng là thế giới đồ chơi và trò chơi, truyện Chú lính chì dũng cảm bày ra một thế giới
hỗn độn với một kết cục buồn: chú lính chì bị quẳng vào lửa và lửa bén cháy cả cô vũ
nữ xinh đẹp bằng bìa của chú. Di hài chú lính được chị giúp việc kết lại thành một trái
tim nhỏ. Cuộc đời chú lính chì, với niềm đam mê tình ái, can đảm chống chọi giữa
dòng rác rưởi, và suýt chết trong bụng con cá măng… chứa đựng tấm lòng trắc ẩn sâu
xa của Andersen về những con người bất toàn. Chú lính chì một chân và cô vũ nữ
cũng chỉ đứng một chân giữa một đám đồ chơi nhao nhác, đầy tâm địa… là một nét vẽ
thiên tài về thế giới khổng lồ của con người. Chú lính chì bị chảy ra trong lửa, nhưng
chú vẫn tiếp tục hóa thành một món đồ chơi mới: một trái tim (món đồ chơi của chị
giúp việc); như thể đời này sang đời khác, trong vóc hình một món đồ chơi, chú lại
tiếp tục dũng cảm sống và chết đi, tiếp tục là câu chuyện trong thế giới đồ chơi. Và
tiếp tục những bi kịch mới.
Truyện Bù nhìn tuyết có hình bóng một ẩn dụ. Giống như Ruyđi bị biến thành đồ chơi
của các âm thần và bị chết theo băng giá, bù nhìn tuyết khi bị tan ra còn trơ cái cán
chổi. Thế mà hắn từng có một khởi đầu vinh quang: “Bù nhìn tuyết sinh ra giữa những
tiếng reo mừng của lũ trẻ em, giữa tiếng nhạc ngựa kéo xe trượt tuyết và giữa tiếng roi
quất của các anh xà ích trẻ tuổi”. Rồi khi mùa xuân đến, mặt trời lên rực rỡ, bù nhìn
tuyết biến mất trong quên lãng. Trong suốt quãng đời “bù nhìn” của mình, bù nhìn
tuyết đã khao khát biết bao một ngọn lửa sưởi ấm trong nhà, một vầng mặt trời đỏ, mà
không biết những thứ ấy sẽ thiêu cháy chính mình. Bởi vì nó không hề ý thức được
rằng nó chỉ là một loại đồ chơi phù phiếm, rằng sự phù phiếm và giới hạn của nó
không thể dùng để phán xét và tìm kiếm vĩnh cửu.
III. Và bi kịch hồn nhiên trong truyện cổ Andersen:
Không gian cổ tích đã tạo ra một chân trời rộng lớn cho Andersen khi thiết kế các
nhân vật và tình huống trong cảm hứng sâu kín về tình đời, tình người. Nhân vật của
Andersen thường chơi và bị chơi. Nhưng các chú bé, cô bé chơi đùa kia chỉ là đòn
bẩy, là cái bóng để soi sang phía bên kia của các con vật bị biến thành đồ chơi, hoặc
những con vật là đồ chơi vì vốn chúng đã như thế. Milan Kundera khi bàn về tiểu
thuyết Cervantes đã dùng cụm khái niệm “hiền minh của lưỡng lự”[2]. Chúng ta có
thể tìm thấy tính chất hiền minh ấy trong câu chuyện cổ của Andersen. Các nhân vật
buộc phải chọn và sống trong đời sống bình thường với những tổn thương tinh thần
sâu sắc và phổ biến. “Khi Đông Kisốt bước ra khỏi nhà và không còn đủ sức nhận ra
thế giới nữa”[3]. Các nhân vật của Andersen, dù là con người hay con vật, đồ vật,
cũng đều mang một sự im lặng nhẫn nại trước mất mát và quên lãng; họ chơi và bị
chơi trong một thế giới hỗn loạn, và không thể nhận biết chắc chắn một điều gì, ngoài
sự ngây thơ của họ. Họ không thuộc chỉ thuộc về cổ tích, thế giới của trẻ thơ giản dị;
họ còn thuộc về tiểu thuyết, thế giới của người lớn đa đoan. Tuy nhiên, ẩn ức bi thảm
được khắc họa bằng những cái chết và nỗi oan không lấn át sự sáng tạo hồn nhiên và
dồi dào của Andersen. Cảm giác lớn nhất mà người đọc tìm thấy ở Andersen vẫn là
niềm yêu sống tuyệt vời, nơi các nhân vật đã có những khoảnh khắc sống đẹp đẽ hết
mình cho mọi ước mơ, được sống hồn nhiên cho đến hết tấn bi kịch của mình.
Là bi kịch, bởi vì nhân vật của Andersen đã phải chọn lựa quá nhiều trước khát vọng
hoàn thiện và sự bất lực tất yếu. Là hồn nhiên, bởi vì mỗi mẫu chuyện của Andersen
đều kể về một thế giới quá xa chúng ta, thế giới cổ tích mà những được mất đều chỉ là
hồi quang của một cuộc chơi nào đó. Là bi kịch, bởi vì không có nhân vật nào của
Andersen mà không có một nỗi mất mát riêng bị giấu đi trong quên lãng…Là hồn
nhiên, bởi vì, nước mắt và nụ cười trong truyện cổ Andersen luôn đồng hành, luôn soi
bóng trong những câu chuyện dù kết cục chọn lựa là sống hay chết, tốt hay xấu.
Trong thế giới tưởng tượng ngộ nghĩnh và trắc ẩn ấy, có bao mảnh đời trôi nổi giữa rủi
may, bao nhân cách bị biến dạng, bao tình yêu bị tan nát, bao cái chết oan uổng… Thế
giới nhân sinh thật sự luôn có mặt trong mỗi trò chơi nho nhỏ của Andersen, trò chơi
mà ông đã phải cặm cụi suốt đời, một cách “chậm chạp và khó nhọc” để sáng tạo ra
nó.
Và mỗi mẫu chuyện cổ tích trong sáng của Andersen vẫn ánh lên sâu kín bi kịch hồn
nhiên của mọi kiếp người.
[1] Trích “Người kể chuyện cổ tích”, lời nói đầu của Pautopxki trong tuyển tập
“Truyện cổ Anđecxen”, NXB Văn hóa Thông tin, 2004.
[2] Xem “Nghệ thuật tiểu thuyết”, Milan Kundera, Nguyên Ngọc dịch, NXB Đà Nẵng,
1998, tr.11.
[3] Nghệ thuật tiểu thuyết, Sđd, tr. 11.
Cây Thông
Một cây thông non xinh tươi mọc trong rừng. Thông mọc chỗ có nắng và quang đãng.
Khắp chung quanh có nhiều cây thông khác lớn hơn. Thông non ta cũng muốn lớn
bằng những cây ấy.
Thông non rất ghét các trẻ con trong làng vừa bi ba bi bô vừa đi qua đi lại để hái quả
dâu, rồi lúc trở về, tay xách giỏ dâu, ngồi gần gốc thông mà khen : “Ồ ! Cây thông
non xinh quá”.
Nó không thích người ta gọi nó là “thông non”. Năm sau nó lớn thêm một đốt, mọc
thêm được một cành, năm sau lại thêm một lớp cành nữa; các bạn hẳn cũng đã biết là
như thế chỉ cần đếm các lớp cành là cũng đủ nhận ra tuổi một cây thông.
Cây thông non thở dài:
- Ôi ! Giá ta cũng to lớn bằng những cây khác nhỉ ! Lúc ấy ta sẽ vươn nổi các nhánh
rất xa ra xung quanh và từ trên ngọn ta có thể ngắm nhìn khắp đồng quê. Chim chóc
sẽ đến làm tổ trên các cành của ta và khi gió thổi ta cũng sẽ nghiêng mình một cách
đường bệ như các cây khác.
Bởi vậy thông non của chúng ta không thích bất cứ một thứ gì, từ nắng ấm cho đến
chim chóc, thậm chí cái đám mây hồng sáng chiều bay qua trên ngọn thông.
Đông đến, bốn bề toàn là tuyết trắng phau lấp lánh. Một con thỏ rừng chạy ngang qua,
nhảy vọt qua ngọn thông non: thông ta lấy làm nhục lắm.
Nhưng qua hai mùa đông nữa thông non của chúng ta lớn đến mức lũ thỏ đành phải
chạy vòng quanh.
Nó lớn lên, lớn mãi, trở nên cao và già. Trên đời này, còn gì đẹp cho bằng, thông non
vẫn đinh ninh như thế.
Hàng năm cứ đến mùa thu các bác tiều phu lại vào đốn ít cây to nhất.
Cây thông non bây giờ đã khá to; nó suy nghĩ về số phận những cây to và đẹp đang
đổ xuống đất rầm rầm. Người ta chặt cành và bóc vỏ đi, cây thành ra dài và thon,
không nhận ra được nữa. Sau đó, người ta đặt cây lên xe ngựa, chở ra khỏi rừng.
Cây đi đâu thế nhỉ ? Số phận cây rồi sẽ ra sao đây? Đến mùa xuân, khi cò và chim
nhạn bay trở về, thông non trước kia của ta hỏi :
- Các bạn có biết người ta mang những cây to đi đâu không? Các bạn có gặp các cậu
ấy không ?
Chim nhạn chẳng hề biết, nhưng một con cò có vẻ đứng đắn, gật gù đáp:
- Có lẽ tôi biết đấy! Tôi đã gặp rất nhiều tàu bè mới tinh từ Ai Cập về. Cột buồm
những tàu ấy rất lộng lẫy, và tôi ngửi thấy thơm thơm, hình như gỗ thông thì phải.
- Chao ôi! Ước gì tôi đủ sức lớn để cũng được bồng bềnh trên mặt biển. Biển ấy như
thế nào nhỉ?
- Nói ra thì dài dòng lắm. Cò đáp rồi bay đi.
Những tia mặt trời bảo thông :
- Cậu hãy vui sướng với cái tuổi trẻ của cậu. Hãy tận hưởng chất nhựa tươi tắn và tuổi
thanh xuân của cậu!
Gió hôn thông và sương trang điểm cho thông những hạt lóng lánh như ngọc, nhưng
thông chẳng xúc động mảy may trước sự chăm sóc ấy.
Gần đến lễ Noel, người ta đến chặt nhiều cây con, bé và non hơn cây thông của chúng
ta, lúc này chỉ muốn rời bỏ cánh rừng. Các cây non ấy cành lá lưa thưa nên người ta
để nguyên lên xe ngựa chở ra khỏi rừng.
Thông ta tự hỏi:
- Chúng đi đâu thế nhỉ ? Chúng chẳng lớn gì hơn ta, có một cây còn bé hơn ta nữa kia.
Sao người ta lại giữ cả cành và đem chúng đi đâu thế ?
Đàn chim sẻ chiêm chiếp:
- Chúng tớ biết ! Chúng tớ biết ! Chúng tớ đã nhìn qua cửa kính các nhà trong thành
phố. Chúng tớ biết người ta đem cây non đi đâu. Người ta mang chúng đến những nơi
hội hè, tưng bừng không thể tưởng tượng được. Nhìn qua cửa kính, chúng tớ thấy
người ta trồng chúng vào giữa một gian phòng ấm áp, trang điểm cho chúng bằng
những vật đẹp nhất, nào táo, nào bánh ngọt, các thứ đồ chơi và hàng mấy trăm ngọn
nến.
- Sao nữa ? – Thông vừa hỏi vừa rung lên, rung cả cành lẫn lá. Sao nữa? Sau rồi thế
nào?
- À, chúng tớ chỉ biết có đến thế thôi! Thật là huy hoàng!
Thông lẩm bẩm:
- Số mình không được hưởng cái tương lai sáng lạn ấy hay sao? Còn thích hơn là đi
biển nhiều. Ôi ! Giá bây giờ lại là lễ Noel nhỉ? Nay mình đã lớn chẳng kém gì những
cây được người ta đem đi năm ngoái. Ôi! Giá mình được lên xe, được trồng trong căn
phòng ấm áp, giữa những vật huy hoàng ấy! Nhưng sau đó sẽ ra sao? Hẳn là sẽ có gì
nữa, nếu không thì người ta trang điểm cho cây như thế để làm gì? Phải, nhất định sẽ
có cái gì tuyệt hơn. Không gì khổ bằng chờ với đợi! Nóng ruột quá đi mất.
Gió hiu hiu và ánh nắng bảo thông: “Hãy vui thú với chúng ta. Hãy bằng lòng với tuổi
thanh xuân mơn mởn, với bầu trời khoáng đãng!”
Thông chẳng vui lòng chút nào. Nó lớn lên, lớn lên mãi, mùa hè cho chí mùa đông,
cành lá lúc nào cũng đẹp một màu xanh thẫm, ai trông cũng khen: “Cây thông đẹp
quá!” và trước lễ Noel mấy ngày người ta chặt nó trước tiên. Lưỡi rìu chặt đứt cây đến
tận lõi, cây thốt ra một tiếng thở dài rồi đổ xuống. Nó đau đớn đến nỗi không còn mơ
tưởng đến một chút hạnh phúc nào nữa. Nó nhớ tiếc chỗ nó mọc, nơi nó đã lớn lên.
Nó biết rằng từ nay trở đi chẳng bao giờ nó còn được gặp lại các bạn cũ thân mến của
nó, các bụi cây, bụi hoa mọc xung quanh nó, và biết đâu đấy? Có thể là ngay đến một
con chím nó cũng không được gặp lại. Đúng, nó ra đi mà lòng không vui.
Cây thông của chúng ta bừng tỉnh trong sân nhà, nơi nguời ta, lôi nó ra khỏi xe cùng
với các bạn khác của nó.
Nó nghe thấy một người lên tiếng: “Cây này đẹp đấy! Tớ đang cần một cây như thế
này!”
Rồi có hai người hầu mặc đồng phục đến khiêng nó vào một gian phòng rộng rãi đẹp
đẽ. Khắp xung quanh có những bức chân dung trên tường và trên chiếc lò sưởi lớn
bằng sứ có hai lọ độc bình Trung Quốc chạm trổ đầy những rồng và hoa thếp vàng.
Lại còn có những cái ghế bành tuyệt đẹp, những ghế trường kỷ bọc lụa, những chiếc
bàn lớn chứa đầy sách và đồ chơi quý giá, đáng hàng mấy trăm mấy nghìn đồng tiền
vàng.
Cấy thông được đặt vào một cái thùng đầy cát, nhưng người ta không thể nào biết rằng
đấy là một cái thùng gỗ vì xung quanh có rèm xanh phủ kín. Thông ta không nén nổi
cảm động. Rồi sao nữa đây? Các cô gái và bạn đầy tớ bắt tay vào trang điểm cho
thông. Họ treo những cái bao dài nhỏ bằng giấy màu xanh đựng đầy kẹo lên cành
thông.
Những quả hạt dẻ và táo vàng trĩu xuống như mọc từ cành thông ra. Rồi sau họ cắm
những cây nến trắng xanh đỏ, đặt những con búp bê nom như người thật lên các cành;
tất cả những thứ đó thông ta chưa được nhìn thấy bao giờ. Chót vót trên ngọn thông
họ cắm một ngôi sao lớn bằng giấy tráng kim tuyệt đẹp. Xung quanh thông mọi người
đều reo lên:
- Đến tối tất cả sẽ sáng rực lên phải biết!
Thông ta tự nhủ:
- Ồ! Sao cho chóng đến tối nhỉ? Đèn nến thắp lên thì phải biết! Rồi còn gì nữa nhỉ?
Giá các cây trong rừng đến được đây mà ngắm ta! Có lẽ lũ chim cũng sẽ đến ngắm ta
qua cửa kính đấy. Liệu đông qua, hạ tới, ta có được trồng ở đây mãi với tất cả trang
sức này không?
Thế là nó đã đoán ra được việc sẽ xảy ra sau này, nhưng vì quá sốt ruột, nó cảm thấy
các lá đều nhức nhối, đối với một cây thông nhức lá cũng khó chịu như chúng ta nhức
đầu.
Sau cùng, người ta thắp nến lên. Sáng quá, huy hoàng quá! Sung sướng, thông ta rùng
mình đến tận các cành nhỏ, đến nỗi một ngọn nến bắt lửa vào một cành cháy khét lèn
lẹt.
- Trời ! – các cô gái kêu lên và lao vào dập lửa.
Thông ta không dám rùng mình nữa, chỉ sợ hỏng mất đồ trang sức. Nó long lanh sáng
rực lên.
Cửa ra vào bỗng mở toang ra và một lũ trẻ con ùa vào dường như muốn xô đổ cây
thông. Người lớn điềm tĩnh theo sau. Lũ trẻ con dừng lại, lặng đi ngắm nghía cây
thông, nhưng sau một lát chúng lại vui cười ầm ĩ và bắt đầu nhảy vòng tròn xung
quanh gốc cây. Những đồ chơi dần dần bị lấy tuốt cả. Thông ta tự hỏi : “Chúng làm gì
thế này? Sắp có chuyện gì chả biết được?”
Nến đã tàn và khi cháy gần hết người ta bèn tắt đi. Lúc ấy trẻ con được phép phá cây
Noel, chúng ùa vào làm các cành thông gãy răng rắc. Nếu không được chôn chặt ắt là
thông ta đã đổ nhào.
Sau đó lũ trẻ con nhảy múa với những đồ chơi xinh đẹp của chúng, chẳng đoái hoài gì
đến thông nữa. Chỉ có mỗi bà vú già đến nhìn ngó các cành, nhưng chỉ để tìm xem có
cái kẹo hoặc quả táo nào còn sót lại chăng.
- Kể cho chúng cháu nghe một chuyện! Kể cho chúng cháu nghe một chuyện! - Bọn
trẻ con vừa reo vừa kéo một người thấp béo đến ngồi dưới gốc thông. Người ấy nói:
- Thế là chúng mình ngồi giữa cành lá xanh tươi và chắc thông cũng thích. Nhưng chỉ
kể một chuyện thôi nhé! Các cháu có thích nghe chuyện Ivet Aval hay chuyện
Klumpê Đumpê ngã thang gác nhưng vẫn trèo được lên ngôi vua và được lấy công
chúa không?
Đứa thì kêu:
- Ivet Avet.
Đứa thì kêu :
- Klumpê Đumpê.
Chúng làm ồn lên. Riêng cây thông vẫn đứng im và tự hỏi:
- Họ không đếm xỉa gì đến mình nữa à? Không cần đến mình nữa chắc?
Ông già kể chuyện Klumpê Đumpê, bọn trẻ con vừa vỗ tay vừa la: “Nữa ! Nữa !”
Chúng còn muốn nghe cả chuyện Ivet Avet, nhưng chỉ được nghe có mỗi một chuyện
Klumpê Đumpê. Thông ta trầm lặng suy nghĩ, chim chóc trong rừng chưa bao giờ kể
cho nó nghe một chuyện nào giống như chuyện Klumpê Đumpê bị ngã thang gác,
nhưng vẫn lấy được công chúa, Thông nghĩ thầm:
- Ừ phải! Ở đời này cũng có thế thật. Chuyện ông cụ kể chắc là không ngoa, có vẻ
thật lắm. Biết đâu đấy? Có thể mình cũng sẽ rơi xuống cầu thang, để rồi sẽ lấy được
một nàng công chúa.
Nó khấp khởi mừng thầm và tưởng tượng đến ngày hôm sau trên người nó sẽ lại mắc
đầy nến, đồ chơi, giấy tráng kim và hoa quả.
Nó tự nhủ:
- Đến mai mình sẽ không run nữa. Mình sẽ tràn trề hạnh phúc. Đến mai mình sẽ lại
được nghe chuyện Klumpê Đumpê và có lẽ cả chuyện Ivet Avet nữa.
Đêm hôm ấy, nó lặng lẽ mơ màng.
Sáng ra, bọn hầu gái bước vào, thông ta hí hửng:
- A! Lại bắt đầu mở hội đây.
Nhưng không! Người ta khiêng nó ra khỏi phòng để đưa lên một cái kho trên gác,
quẳng vào một xó tối như bưng.
Thông nghĩ thầm:
- Thế này là thế nào? Đến chốn này thân mình sẽ ra sao nhỉ? Lần này mình sẽ được
nghe kể chuyện gì nhỉ?
Rồi nó dựa vào vách mà mơ màng.
Ngày tháng trôi qua, chẳng có ma nào trèo lên nhà kho và nếu có người lên đến nơi
cũng chỉ là để đem vứt vào đấy những chiếc hòm lớn. Thông ta đành phải tin là mình
đã bị quên hoàn toàn.
Nó tự nhủ:
- Ngoài kia, đông đã đến nơi rồi. Đất đã cứng ra và phủ đầy tuyết. Giờ thì người ta
không đem trồng mình được nữa rồi. Tất nhiên là mình phải ở đây đến tận mùa xuân.
Tất cả đều tuyệt mỹ và loài người cũng tốt thôi. Giá cái kho gớm ghiếc này đỡ tối một
chút thì hay quá! Chẳng có lấy một chú thỏ nào! Trong rừng khi tuyết rơi và đàn thỏ
chạy ngang qua thật là vui… thế mà hồi đó mình lại đâm cáu khi chúng nhảy qua
ngọn mình. Chốn này quả là hoang vu đáng sợ.
- Chít ! Chít - Một con chuột nhắt vừa kêu vừa nhảy nhót đến gần thông, rồi một con
nữa theo sau, cả hai đều đánh hơi rồi trèo lên cành thông. Chúng xuýt xoa:
- Rét đâu mà khiếp thế. Nếu không rét thì ở đây cũng sướng đấy chứ, phải chăng bác
thông già?
Thông đáp:
- Ta đâu đến nỗi già, còn có khối kẻ già hơn ta.
- Thế bác ở đâu đến đây? Bác biết gì nào? Hãy tả những danh lam thắng cảnh trên trái
đất cho chúng tôi nghe. Bác đã đi đến những nơi đó chưa? Bác đã được đến cái chạn
đựng đầy phó mát trên các ngăn, có đùi lợn sấy lủng lẳng treo trên nóc, nơi có thể
khiêu vũ trên những cây nến làm bằng mỡ, nơi mà khi vào thì gầy, khi ra thì béo nung
núc không?
- Không, ta không biết nơi ấy. Nhưng ta biết cánh rừng có mặt trời lấp lánh và chim
muông ca hát.
Thông kể cho chuột nhắt nghe cuộc đời niên thiếu của mình. Chưa bao giờ chúng
từng được nghe một chuyện như vậy, chúng dỏng cả tai lên, miệng nói:
- Bác biết đến là nhiều chuyện. Sao bác sướng thế?
- Ta mà sướng ư? Nói rồi thông ngẫm nghĩ về câu chuyện mình vừa kể. Phải, suy cho
cùng, hồi ấy quả có sướng thật.
Rồi thông kể đến chuyện đêm Noel, thân nó đầy những bánh ngọt và nến.
Chuột nhắt trầm trồ:
- Trời, bác thông già, sao bác sướng thế?
Thông nói:
- Ta đã già đâu kia chứ! Người ta mới đem ta ở rừng về từ mùa đông thôi mà. Ta vừa
mới lớn lên mà họ đã tống ta vào một cái thùng. Rõ thật là khó chịu.
Chuột nói:
- Bác kể chuyện hay quá đi mất!
Đêm sau, hai con chuột nhắt rủ thêm bốn con nữa đến để nghe thông kể chuyện.
Thông nói:
- Phải, hồi ấy quả có sướng thật, nhưng rồi lại cũng sẽ có những ngày như vậy.
Klumpê Đumpê ngã thang gác mà còn lấy được một nàng công chúa. Rất có thể ta
cũng sẽ vớ được một nàng công chúa.
Nói rồi thông tưởng nhớ đến một cây phong xinh xắn trong rừng mà nó tưởng tượng
là một nàng công chúa thật.
Lũ chuột nhắt hỏi:
- Klumpê Đumpê là gì thế?
Thông ta kể lại câu chuyện không sót một chữ. Lũ chuột nhắt thích quá, tưởng như
muốn nhảy lên đến ngọn thông.
Đêm sau, chuột nhắt kéo đến đông hơn và đến chủ nhật lại có thêm cả hai gã chuột
chù, nhưng hai gã tuyên bố rằng câu chuyện chả có gì lý thú, làm cho lũ chuột nhắt
buồn xỉu. Vì thế câu chuyện đối với chúng, từ đó trở đi, cũng kém phần lý thú.
Chuột chù hỏi:
- Bác chỉ biết có mỗi chuyện ấy thôi à?
- Ừ, chỉ có thế thôi – thông trả lời – đó là chính câu chuyện ta được nghe kể trong
buổi tối sung sướng nhất của đời ta, nhưng lúc đó, ta không biết là sung sướng đến
mức nào.
- Chuyện của bác thật chán ngấy! Thế bác không biết ở đâu có mỡ miếng và nến làm
bằng mỡ à? Bác không biết chuyện nào nói về cái chạn đựng thức ăn à?
- Không ! Thông nói.
- Thế thì xin chào bác ! Nói rồi chuột chù kéo nhau về.
Lũ chuột nhắt cũng rút lui nốt.
Thông ta lẩm bẩm:
- Dẫu sao nhìn lũ chuột nhắt ngồi quây tròn quanh mình nghe kể chuyện cũng thấy
thú vị. Nhưng cảnh đó cũng chẳng còn. Chỉ khi nào người ta lôi mình ra khỏi nơi này
thì hạnh phúc mới trở lại.
Bao giờ đến lúc ấy nhỉ?
Một buổi sáng đẹp trời, người ta đến dọn dẹp kho thóc, khuân hòm đi và kéo cây
thông ra khỏi xó nhà. Nó bị quăng xuống đất hơi mạnh, nhưng liền đó có một người
vác nó đem qua một cầu thang sáng sủa.
- Đời lại vun vút lên rồi ! Thông nghĩ thầm khi được mang ra sân và cảm thấy có gió
mát và ánh nắng đầu xuân.
Thông mải nhìn các vật quanh mình đến nỗi quên cả bản thân mình. Liền với cái sân
có mảnh vườn đầy hoa nở. Hoa hồng tươi thơm ngát rủ trên bờ rào, bồ đề đang ra hoa
và chim nhạn vừa bay vừa hót : kia – rơ – vi – rơ – vít.
- Giờ đây ta lại sắp được sống! - Thông thì thầm và vươn cành ra. Than ôi ! Cành đã
khô vàng. Người ta quẳng thông vào một xó giữa đám cây tầm ma và cây gai. Ngôi
sao bằng giấy vẫn còn đính trên ngọn và lấp lánh ánh nắng.
Trong sân có vài đứa trẻ con hôm lễ Noel đã nhảy múa quanh cây thông và thấy thông
hôm ấy rất đẹp. Đứa bé nhất chạy lại cầm lấy ngôi sao vàng óng, reo lên:
- Ồ, xem này ! Ngôi sao hãy còn đính trên cây thông Noel già xấu xí này!
Nói rồi, nó dận giày lên cành thông gãy răng rắc.
Thông ta nhìn những đóa hoa đẹp và khu vườn xanh tươi mát mẻ rồi lại nhìn cái thân
mình. Nó muốn quay trở lại xó tối trong kho thóc. Nó nghĩ đến thời thanh xuân của
nó trong rừng, nghĩ đến cái đêm Noel vui sướng và nghĩ đến những con chuột nhắt
thích nghe kể chuyện Klumpê Đumpê.
- Thế là hết ! Ai bảo lúc sướng lại chả biết đường mà sướng?
Một anh đầy tớ đến chặt cây ra từng mảnh, được một bó củi to đem đun bếp. Người ta
nghe thấy những tiếng thở dài và những tiếng kêu thất thanh. Bọn trẻ con chạy lại
đứng trước ngọn lửa mà reo: “Phì ! phì !” nhưng những tiếng phì phì của cây thông là
những tiếng thở dài thực sự. Nó nghĩ đến những ngày hè trong rừng, những đêm đông
ngoài bầu trời khoáng đãng, những sao lấp lánh trên trời. Nó nghĩ đến đêm Noel và
đến Klumpê Đumpê, câu chuyện độc nhất đã học được và kể lại được.
Thế rồi, chẳng còn sót lại một tí gì của cây thông non nữa.
Lũ trẻ con lại chạy ra sân, đứa bé nhất còn đeo trên ngực ngôi sao vàng mà thông đã
được đeo trong cái tối sung sướng nhất của đời nó.
Cái tối hôm ấy không còn nữa và câu chuyện của chúng ta cũng hết như tất cả các câu
chuyện trên đời này.
Em bé bán diêm
Rét dữ dội. Tuyết rơi. Trời đã tối hẳn. Đêm nay là đêm giao thừa.
Giữa trời đông giá rét, một em gái nhỏ đ...
Truyện cổ andersen
Tổng hợp từ nhiều nguồn
Tạo ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Thư viện Sách Mới.Net
13/11/2012: 33 truyện
Bi kịch hồn nhiên trong truyện cổ Andersen
Lê Thị Thanh Tâm
Người ta gọi ông là “người kể chuyện cổ tích”. Còn ông tự nhận mình “giống như
người dân miền núi đục vào vách đá những bậc thang” để “chậm chạp và khó nhọc
tìm lấy một chỗ đứng của mình trong văn học”[1]. Ông là thiên tài kể chuyện Hans
Christian Andersen (1805-1875).
Andersen đã có một cuộc đời sáng tạo vĩ đại: ông là nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch, nhà
thơ, và đặc biệt là nhà viết truyện cổ tích. Sinh thời, ông làm bạn với V. Hugo, H.
Balzac, C. Dicken, H. Heine… Sinh trong nghèo khó ở thành phố cổ Ôđenzê nước
Đan Mạch, làm con của một người thợ giày bần hàn, tuổi thơ chìm đắm trong những
câu chuyện cổ tích do người cha và các cụ già trong khu dưỡng lao kể lại, những năm
tháng ngây thơ sống trong các trò chơi tưởng tượng, tâm lý và vóc dáng có nhiều nét
kỳ quặc, bị khinh rẻ và sống trong niềm tủi nhục…, Andersen đã trở thành ông vua
chuyện cổ mà tên tuổi bay khắp thế giới.
Bo Gronbech trong tham luận “Tại sao chúng ta nghiên cứu Andersen?” (Hội thảo
Andersen và Thế giới – Andersen and The World, 1993) đã nêu lên 9 nguyên nhân
cần phải tìm hiểu Andersen như sau: 1-Cuộc đời nhà văn, 2- Tâm lý kỳ lạ, 3-Thơ ca,
4-Sáng tạo cổ tích, 5-Nghệ thuật cảm thụ, 6-Ý niệm tôn giáo và triết lý nhân sinh
trong truyện cổ, 7-Việc biên tập, 8-Ảnh hưởng của Andersen đến văn hóa Đan Mạch,
9-Dịch thuật truyện cổ Andersen và phê bình tác phẩm Andersen ở nước ngoài. Ở
mục Sáng tạo cổ tích, Gronbech đặt ra câu hỏi về “bí ẩn kể chuyện” của Andersen khi
trộn lẫn những nhân vật–con người và nhân vật-sự vật với nhau. Và ở mục Ý niệm
tôn giáo và triết lý nhân sinh trong truyện cổ, Gronbech cũng kêu gọi chúng ta hãy
đọc Andersen không chỉ dưới ánh sáng Thiên Chúa giáo, mà dưới chủ âm triết lý
chung cuộc về đời sống con người mà Andersen thể hiện. Gợi ý này giúp chúng tôi
nghĩ đến một luận điểm nhỏ: phải chăng, có một lớp nghĩa mang nội dung bi kịch
trong truyện cổ Andersen thông qua sự trộn lẫn nhân vật-con người và nhân vật-sự
vật, và bi kịch ấy, trong dáng dấp truyện cổ tích, sẽ mang màu sắc hồn nhiên?
I. Bi kịch chọn lựa:
Chúng ta bắt đầu với câu chuyện Nàng tiên cá.
Nàng tiên cá khi có được tình yêu với con người (là chàng hoàng tử) thì bị rơi vào thế
phải đánh đổi: đánh đổi tiếng hát, giọng nói, và cao hơn là đánh đổi số phận của
chính mình, đánh đổi sự tồn tại để có được một linh hồn bất diệt. Nàng có hai lần phải
chọn lựa. Lần thứ nhất, khi đến gặp mù phù thủy, nàng buộc phải chọn lựa giữa việc
hy sinh tiếng hát, giọng nói để biến thành người và được gặp hoàng tử yêu dấu. Nàng
đã chọn sự hy sinh. Lần thứ hai, khi buộc phải giết chết hoàng tử trước lúc mặt trời
mọc để sống ba trăm năm đời cá thay vì sống trong tích tắc của kiếp người. Nàng đã
chọn kiếp người. Cuộc đời nàng tiên cá đã phải chọn lựa những thứ như sau: được làm
người, được yêu như người, và được chết như con người. Dấu hiệu duy nhất để nhận
biết điều ấy là đôi chân trần đau nhói trong mỗi bước đi. Những chọn lựa của nàng
tiên cá suy cho cùng đều là những quyết định bi kịch. Cái nàng đạt được và cái nàng
hy sinh đều hệ trọng như nhau. Nàng phải chọn trong đau đớn giữa cái phù vân và cái
vĩnh cửu, giữa thân phận bọt sóng vô tri và kiếp người đầy mất mát. Cái là phù vân lại
mang hình bóng vĩnh cửu (bọt sóng), cái tưởng là vĩnh cửu lại quá đỗi phù vân (làm
người).
Truyện Cái bóng kể cho chúng ta một sự chọn lựa khác. Người đàn ông trong truyện
(một nhà khoa học) có hai lần chọn lựa, nhưng đều kín đáo, đến nỗi nhà văn cũng
không nỡ nói cho chúng ta biết nhân vật đã quyết định chọn lựa từ lúc nào. Chỉ biết
rằng, có một lần, người đàn ông ấy thấy mình mất bóng. Quyết định chọn con đường
cho phép chiếc bóng ra đi mà không biết, người đàn ông trở nên đơn độc khủng khiếp
khi không còn bóng nữa. Cái bóng ấy sau những chuyến phiêu lưu li kỳ bỗng dưng
quay lại với địa vị con người thật. Nó giàu có, sang trọng, và thậm chí còn muốn lấy
vợ. Người đàn ông chọn lựa lần thứ hai, chấp nhận đổi thân phận mình làm bóng, và
cái bóng làm chủ lấy nhà khoa học. Buổi tiệc cưới tưng bừng của chiếc bóng ở cuối
truyện được đặt bên cạnh cái chết âm thầm của con người thật. Câu chuyện cổ tích
tưởng chừng ngộ nghĩnh này chất chứa một sự đánh đổi bi thảm của con người trong
xã hội hiện đại. Andersen đã sử dụng những chi tiết thần kỳ nhằm mang đến cho
chúng ta một ẩn dụ mới về sự bất lực của con người trong việc chăm bón cho hào
quang phù phiếm. Nhà khoa học viết về Chân Thiện Mỹ đã chết. Nhưng chiếc bóng
của ông ta thì vẫn sống, lấy vợ, giàu có, và giả vờ thương xót con người thật đã mất
kia. Bi kịch này có lẽ vẫn âm thầm xảy ra với bất kỳ ai trong chúng ta, khi nỗi sợ mất
bóng là ám ảnh lớn nhất trong đời.
Truyện Một bà mẹ lại dẫn chúng ta đến thế giới của tình mẫu tử. Người mẹ tội nghiệp
ấy cũng phải có ba lần chọn lựa khi mất đứa con thân yêu. Lần thứ nhất, người mẹ
khóc để đôi mắt trong veo của bà rơi xuống đáy hồ, khi ấy bà được hồ dẫn đường đến
ngôi nhà của Thần Chết. Lần thứ hai, người mẹ phải trao mớ tóc đen của mình cho bà
cụ đổi lấy mớ tóc bạc để được chỉ đường đến khu vườn kính của Thần Chết, nơi có
những bông hoa tượng trưng cho kiếp người. Cái gì đã dắt người mẹ đi xa đến thế,
đánh đổi nhiều đến thế, đó là tình mẫu tử, là việc tìm lại đứa con thân yêu. Nhưng
trong khu vườn, với đôi mắt trong veo được trao trả lại, người mẹ đã nhìn thấy bao
nhiêu thân phận sung sướng và bất hạnh trong những bông hoa. Và bà quyết định: để
cho con được chết. Lựa chọn cuối cùng này của người mẹ là dấu chỉ cho chúng ta đọc
được ý nghĩa bên trong của câu chuyện cổ tích. Người mẹ không muốn con mình thức
dậy vì bà không thể biết được cuộc đời thực sự của đứa con sẽ là khổ đau hay hạnh
phúc; bà không thể biết nếu con mình sống lại thì cái sống ấy liệu có làm người khác
phải mất con như bà không, có phải trả giá không. Vì không biết nên bà chấp nhận
cho Thần Chết mang con mình đi xa. Chúng ta, cũng như bà mẹ, không biết kết cuộc
mà Andersen dành cho người mẹ đau khổ đó là đúng hay không đúng. Cái chết từ đầu
câu chuyện vẫn chỉ là cái chết cho đến cuối câu chuyện, dù người mẹ đã phải mù lòa
đi hay già cỗi đi vì đau thương. Chúng ta bị chọn lựa cho cái chết, còn ý nghĩa cái chết
ấy vẫn là điều không thể biết.
Có thể nói, những mong ước trong truyện cổ Andersen đều thiết tha và hệ trọng.
Nhưng các nhân vật khi đạt được lại hiếm khi trọn vẹn niềm vui. Truyện của ông
thường không kết thúc trong khúc khải hoàn hoặc sự viên mãn, rằng từ đó trở đi,
những nhân vật ấy sẽ được hạnh phúc mãi mãi. Andersen đã làm ngược lại; cái đạt
được không phải là phần thưởng tuyệt đối cho đức hạnh hoặc tài năng, hoặc sự khốn
khó. Cái đạt được vẫn nằm trong chiếc bóng khổng lồ của định mệnh. Và nỗi buồn
vẫn tràn ngập, cho dù mơ ước đã thành.
II. Bi kịch trò chơi:
Andersen có nhiều câu chuyện cổ mà nhân vật là những đồ vật, động vật. Cách sử
dụng nhân vật như thế rất gần với loại truyện ngụ ngôn như truyện kể của Edôp hoặc
ngụ ngôn La-phông-ten. Nhưng tính chất ngụ ngôn của Andersen lại có thêm màu sắc
của tiểu thuyết, thể hiện ở chất đời thường tỏa khắp mọi chi tiết, kể cả những chi tiết
kỳ lạ. Chúng ta đọc thấy trong truyện Andersen lời khuyên chí tình của các con vật,
nghe lời kể của đồng silinh bạc, chiêm nghiệm đời anh bù nhìn tuyết, con quay và cái
bóng, chiếc kim thô, gã cổ cồn, con bọ chét, con chấu chấu, con nhảy, rồi xúc động
với anh lính chì, con chim và hoa cúc trắng… Nhân vật đồ vật và động vật trong
truyện Andersen như một kiểu mặt nạ. Ở đó, nhà văn tha hồ cho nhân vật của mình bị
hành hạ, bị bóc trần, bị thua cuộc… mà vẫn cứ là những chiếc mặt nạ, những trò chơi
của tuổi thơ…
Chúng ta sẽ đọc truyện cổ Andersen theo tính chất bi kịch của nó qua hai lớp nghĩa:
+ Lớp ngụ ngôn : xuất phát từ các nhân vật trò chơi. Đặc điểm này đáp ứng yêu cầu
cho trẻ thơ vì trẻ vốn yêu thích chơi đùa và đóng giả. Andersen đã cố ý tạo ra kiểu
truyện mang nghĩa kép: trò chơi và những giáo huấn tinh tế. Truyện có nhiều cách
ngôn mang tín hiệu ngụ ngôn như câu nói lặp lại ba lần của chàng Ruydi: “Nếu nghĩ
mình không ngã thì sẽ không bao giờ ngã”(Nữ thần Băng giá), hoặc câu “khi ở trên
cao thì người ta có thể mỉm cười”(Một chuyện đau lòng, hay “có kiên tâm chờ đợi thì
cuối cùng bao giờ vẫn được người ta đánh giá đúng với giá trị thực tế của mình”
(Đồng silinh bạc)…
+ Lớp tiểu thuyết: đó là lời kể về những cái thường nhật, thường trực. Hình ảnh về một
thế giới tầm thường, giả tạo, và liên tục trở nên phù phiếm đi song hành với những
ước mơ cao khiết, những biến cố kỳ dị, những thử thách và chết chóc chỉ có trong
thần thoại hay cổ tích khiến cho truyện cổ Andersen mang tính đa thanh. Hình vóc là
truyện cổ mà dư vang lại thuộc về tiểu thuyết. Nhân vật tưởng là mang mặt nạ ngụ
ngôn, nhưng tình huống và bi kịch của chúng lại trùng khớp với mọi biến cố tiểu
thuyết hiện đại.
Truyện Một cặp tình nhân kể về hai nhân vật: chú Quay và ả Bóng. Trong mối tình trò
chơi ngô nghê đậm màu sắc tưởng tượng này, người đọc bắt gặp ba chi tiết như sau:
một là lời thề, hay lời hứa, hai là sự đỏng đảnh của ả Bóng, ba là sự từ chối của chú
Quay trước một ả Bóng trương phềnh hết thời. Mối tình bắt đầu bằng sự thề thốt và
kết thúc trong bạc bẽo ấy ta hoàn toàn có thể tìm thấy ở bất kỳ nơi đâu trong xã hội
con người. Cái gì làm cho cặp tình nhân ấy chán chường nhau? Khởi đầu là do…một
cú đập bóng của lũ trẻ con. Cái lý do không đâu ấy ta cũng có thể tìm thấy ở bất kỳ
nơi đâu trên thế giới này. Những đổ vỡ phi lý, những đổi thay do thời cuộc, câu
chuyện nhân tình thế thái đã được Andersen lồng kín trong mấy trang giấy. Những đứa
bé ngây thơ sẽ cười ngặt nghẽo khi nghe Andersen kể về mối tình của hai thứ đồ chơi
vô tri kia. Còn người lớn thì ngậm ngùi hơn. Vì cái kết cục bi hài này không thể biết
được sẽ đến với ta vào khi nào: “Thế là Quay được sống lại cuộc đời vinh quang. Còn
Bóng thì bị quẳng ra ngoài phố. Quay chẳng bao giờ còn nhắc đến mối tình xưa nữa.
Khi cu cậu trông thấy cô ả trương phềnh lên vì nước mưa, nom rúm ró và gớm chết,
cụ cậu đã lờ đi, không nhận cô ả nữa”.
Cũng là thế giới đồ chơi và trò chơi, truyện Chú lính chì dũng cảm bày ra một thế giới
hỗn độn với một kết cục buồn: chú lính chì bị quẳng vào lửa và lửa bén cháy cả cô vũ
nữ xinh đẹp bằng bìa của chú. Di hài chú lính được chị giúp việc kết lại thành một trái
tim nhỏ. Cuộc đời chú lính chì, với niềm đam mê tình ái, can đảm chống chọi giữa
dòng rác rưởi, và suýt chết trong bụng con cá măng… chứa đựng tấm lòng trắc ẩn sâu
xa của Andersen về những con người bất toàn. Chú lính chì một chân và cô vũ nữ
cũng chỉ đứng một chân giữa một đám đồ chơi nhao nhác, đầy tâm địa… là một nét vẽ
thiên tài về thế giới khổng lồ của con người. Chú lính chì bị chảy ra trong lửa, nhưng
chú vẫn tiếp tục hóa thành một món đồ chơi mới: một trái tim (món đồ chơi của chị
giúp việc); như thể đời này sang đời khác, trong vóc hình một món đồ chơi, chú lại
tiếp tục dũng cảm sống và chết đi, tiếp tục là câu chuyện trong thế giới đồ chơi. Và
tiếp tục những bi kịch mới.
Truyện Bù nhìn tuyết có hình bóng một ẩn dụ. Giống như Ruyđi bị biến thành đồ chơi
của các âm thần và bị chết theo băng giá, bù nhìn tuyết khi bị tan ra còn trơ cái cán
chổi. Thế mà hắn từng có một khởi đầu vinh quang: “Bù nhìn tuyết sinh ra giữa những
tiếng reo mừng của lũ trẻ em, giữa tiếng nhạc ngựa kéo xe trượt tuyết và giữa tiếng roi
quất của các anh xà ích trẻ tuổi”. Rồi khi mùa xuân đến, mặt trời lên rực rỡ, bù nhìn
tuyết biến mất trong quên lãng. Trong suốt quãng đời “bù nhìn” của mình, bù nhìn
tuyết đã khao khát biết bao một ngọn lửa sưởi ấm trong nhà, một vầng mặt trời đỏ, mà
không biết những thứ ấy sẽ thiêu cháy chính mình. Bởi vì nó không hề ý thức được
rằng nó chỉ là một loại đồ chơi phù phiếm, rằng sự phù phiếm và giới hạn của nó
không thể dùng để phán xét và tìm kiếm vĩnh cửu.
III. Và bi kịch hồn nhiên trong truyện cổ Andersen:
Không gian cổ tích đã tạo ra một chân trời rộng lớn cho Andersen khi thiết kế các
nhân vật và tình huống trong cảm hứng sâu kín về tình đời, tình người. Nhân vật của
Andersen thường chơi và bị chơi. Nhưng các chú bé, cô bé chơi đùa kia chỉ là đòn
bẩy, là cái bóng để soi sang phía bên kia của các con vật bị biến thành đồ chơi, hoặc
những con vật là đồ chơi vì vốn chúng đã như thế. Milan Kundera khi bàn về tiểu
thuyết Cervantes đã dùng cụm khái niệm “hiền minh của lưỡng lự”[2]. Chúng ta có
thể tìm thấy tính chất hiền minh ấy trong câu chuyện cổ của Andersen. Các nhân vật
buộc phải chọn và sống trong đời sống bình thường với những tổn thương tinh thần
sâu sắc và phổ biến. “Khi Đông Kisốt bước ra khỏi nhà và không còn đủ sức nhận ra
thế giới nữa”[3]. Các nhân vật của Andersen, dù là con người hay con vật, đồ vật,
cũng đều mang một sự im lặng nhẫn nại trước mất mát và quên lãng; họ chơi và bị
chơi trong một thế giới hỗn loạn, và không thể nhận biết chắc chắn một điều gì, ngoài
sự ngây thơ của họ. Họ không thuộc chỉ thuộc về cổ tích, thế giới của trẻ thơ giản dị;
họ còn thuộc về tiểu thuyết, thế giới của người lớn đa đoan. Tuy nhiên, ẩn ức bi thảm
được khắc họa bằng những cái chết và nỗi oan không lấn át sự sáng tạo hồn nhiên và
dồi dào của Andersen. Cảm giác lớn nhất mà người đọc tìm thấy ở Andersen vẫn là
niềm yêu sống tuyệt vời, nơi các nhân vật đã có những khoảnh khắc sống đẹp đẽ hết
mình cho mọi ước mơ, được sống hồn nhiên cho đến hết tấn bi kịch của mình.
Là bi kịch, bởi vì nhân vật của Andersen đã phải chọn lựa quá nhiều trước khát vọng
hoàn thiện và sự bất lực tất yếu. Là hồn nhiên, bởi vì mỗi mẫu chuyện của Andersen
đều kể về một thế giới quá xa chúng ta, thế giới cổ tích mà những được mất đều chỉ là
hồi quang của một cuộc chơi nào đó. Là bi kịch, bởi vì không có nhân vật nào của
Andersen mà không có một nỗi mất mát riêng bị giấu đi trong quên lãng…Là hồn
nhiên, bởi vì, nước mắt và nụ cười trong truyện cổ Andersen luôn đồng hành, luôn soi
bóng trong những câu chuyện dù kết cục chọn lựa là sống hay chết, tốt hay xấu.
Trong thế giới tưởng tượng ngộ nghĩnh và trắc ẩn ấy, có bao mảnh đời trôi nổi giữa rủi
may, bao nhân cách bị biến dạng, bao tình yêu bị tan nát, bao cái chết oan uổng… Thế
giới nhân sinh thật sự luôn có mặt trong mỗi trò chơi nho nhỏ của Andersen, trò chơi
mà ông đã phải cặm cụi suốt đời, một cách “chậm chạp và khó nhọc” để sáng tạo ra
nó.
Và mỗi mẫu chuyện cổ tích trong sáng của Andersen vẫn ánh lên sâu kín bi kịch hồn
nhiên của mọi kiếp người.
[1] Trích “Người kể chuyện cổ tích”, lời nói đầu của Pautopxki trong tuyển tập
“Truyện cổ Anđecxen”, NXB Văn hóa Thông tin, 2004.
[2] Xem “Nghệ thuật tiểu thuyết”, Milan Kundera, Nguyên Ngọc dịch, NXB Đà Nẵng,
1998, tr.11.
[3] Nghệ thuật tiểu thuyết, Sđd, tr. 11.
Cây Thông
Một cây thông non xinh tươi mọc trong rừng. Thông mọc chỗ có nắng và quang đãng.
Khắp chung quanh có nhiều cây thông khác lớn hơn. Thông non ta cũng muốn lớn
bằng những cây ấy.
Thông non rất ghét các trẻ con trong làng vừa bi ba bi bô vừa đi qua đi lại để hái quả
dâu, rồi lúc trở về, tay xách giỏ dâu, ngồi gần gốc thông mà khen : “Ồ ! Cây thông
non xinh quá”.
Nó không thích người ta gọi nó là “thông non”. Năm sau nó lớn thêm một đốt, mọc
thêm được một cành, năm sau lại thêm một lớp cành nữa; các bạn hẳn cũng đã biết là
như thế chỉ cần đếm các lớp cành là cũng đủ nhận ra tuổi một cây thông.
Cây thông non thở dài:
- Ôi ! Giá ta cũng to lớn bằng những cây khác nhỉ ! Lúc ấy ta sẽ vươn nổi các nhánh
rất xa ra xung quanh và từ trên ngọn ta có thể ngắm nhìn khắp đồng quê. Chim chóc
sẽ đến làm tổ trên các cành của ta và khi gió thổi ta cũng sẽ nghiêng mình một cách
đường bệ như các cây khác.
Bởi vậy thông non của chúng ta không thích bất cứ một thứ gì, từ nắng ấm cho đến
chim chóc, thậm chí cái đám mây hồng sáng chiều bay qua trên ngọn thông.
Đông đến, bốn bề toàn là tuyết trắng phau lấp lánh. Một con thỏ rừng chạy ngang qua,
nhảy vọt qua ngọn thông non: thông ta lấy làm nhục lắm.
Nhưng qua hai mùa đông nữa thông non của chúng ta lớn đến mức lũ thỏ đành phải
chạy vòng quanh.
Nó lớn lên, lớn mãi, trở nên cao và già. Trên đời này, còn gì đẹp cho bằng, thông non
vẫn đinh ninh như thế.
Hàng năm cứ đến mùa thu các bác tiều phu lại vào đốn ít cây to nhất.
Cây thông non bây giờ đã khá to; nó suy nghĩ về số phận những cây to và đẹp đang
đổ xuống đất rầm rầm. Người ta chặt cành và bóc vỏ đi, cây thành ra dài và thon,
không nhận ra được nữa. Sau đó, người ta đặt cây lên xe ngựa, chở ra khỏi rừng.
Cây đi đâu thế nhỉ ? Số phận cây rồi sẽ ra sao đây? Đến mùa xuân, khi cò và chim
nhạn bay trở về, thông non trước kia của ta hỏi :
- Các bạn có biết người ta mang những cây to đi đâu không? Các bạn có gặp các cậu
ấy không ?
Chim nhạn chẳng hề biết, nhưng một con cò có vẻ đứng đắn, gật gù đáp:
- Có lẽ tôi biết đấy! Tôi đã gặp rất nhiều tàu bè mới tinh từ Ai Cập về. Cột buồm
những tàu ấy rất lộng lẫy, và tôi ngửi thấy thơm thơm, hình như gỗ thông thì phải.
- Chao ôi! Ước gì tôi đủ sức lớn để cũng được bồng bềnh trên mặt biển. Biển ấy như
thế nào nhỉ?
- Nói ra thì dài dòng lắm. Cò đáp rồi bay đi.
Những tia mặt trời bảo thông :
- Cậu hãy vui sướng với cái tuổi trẻ của cậu. Hãy tận hưởng chất nhựa tươi tắn và tuổi
thanh xuân của cậu!
Gió hôn thông và sương trang điểm cho thông những hạt lóng lánh như ngọc, nhưng
thông chẳng xúc động mảy may trước sự chăm sóc ấy.
Gần đến lễ Noel, người ta đến chặt nhiều cây con, bé và non hơn cây thông của chúng
ta, lúc này chỉ muốn rời bỏ cánh rừng. Các cây non ấy cành lá lưa thưa nên người ta
để nguyên lên xe ngựa chở ra khỏi rừng.
Thông ta tự hỏi:
- Chúng đi đâu thế nhỉ ? Chúng chẳng lớn gì hơn ta, có một cây còn bé hơn ta nữa kia.
Sao người ta lại giữ cả cành và đem chúng đi đâu thế ?
Đàn chim sẻ chiêm chiếp:
- Chúng tớ biết ! Chúng tớ biết ! Chúng tớ đã nhìn qua cửa kính các nhà trong thành
phố. Chúng tớ biết người ta đem cây non đi đâu. Người ta mang chúng đến những nơi
hội hè, tưng bừng không thể tưởng tượng được. Nhìn qua cửa kính, chúng tớ thấy
người ta trồng chúng vào giữa một gian phòng ấm áp, trang điểm cho chúng bằng
những vật đẹp nhất, nào táo, nào bánh ngọt, các thứ đồ chơi và hàng mấy trăm ngọn
nến.
- Sao nữa ? – Thông vừa hỏi vừa rung lên, rung cả cành lẫn lá. Sao nữa? Sau rồi thế
nào?
- À, chúng tớ chỉ biết có đến thế thôi! Thật là huy hoàng!
Thông lẩm bẩm:
- Số mình không được hưởng cái tương lai sáng lạn ấy hay sao? Còn thích hơn là đi
biển nhiều. Ôi ! Giá bây giờ lại là lễ Noel nhỉ? Nay mình đã lớn chẳng kém gì những
cây được người ta đem đi năm ngoái. Ôi! Giá mình được lên xe, được trồng trong căn
phòng ấm áp, giữa những vật huy hoàng ấy! Nhưng sau đó sẽ ra sao? Hẳn là sẽ có gì
nữa, nếu không thì người ta trang điểm cho cây như thế để làm gì? Phải, nhất định sẽ
có cái gì tuyệt hơn. Không gì khổ bằng chờ với đợi! Nóng ruột quá đi mất.
Gió hiu hiu và ánh nắng bảo thông: “Hãy vui thú với chúng ta. Hãy bằng lòng với tuổi
thanh xuân mơn mởn, với bầu trời khoáng đãng!”
Thông chẳng vui lòng chút nào. Nó lớn lên, lớn lên mãi, mùa hè cho chí mùa đông,
cành lá lúc nào cũng đẹp một màu xanh thẫm, ai trông cũng khen: “Cây thông đẹp
quá!” và trước lễ Noel mấy ngày người ta chặt nó trước tiên. Lưỡi rìu chặt đứt cây đến
tận lõi, cây thốt ra một tiếng thở dài rồi đổ xuống. Nó đau đớn đến nỗi không còn mơ
tưởng đến một chút hạnh phúc nào nữa. Nó nhớ tiếc chỗ nó mọc, nơi nó đã lớn lên.
Nó biết rằng từ nay trở đi chẳng bao giờ nó còn được gặp lại các bạn cũ thân mến của
nó, các bụi cây, bụi hoa mọc xung quanh nó, và biết đâu đấy? Có thể là ngay đến một
con chím nó cũng không được gặp lại. Đúng, nó ra đi mà lòng không vui.
Cây thông của chúng ta bừng tỉnh trong sân nhà, nơi nguời ta, lôi nó ra khỏi xe cùng
với các bạn khác của nó.
Nó nghe thấy một người lên tiếng: “Cây này đẹp đấy! Tớ đang cần một cây như thế
này!”
Rồi có hai người hầu mặc đồng phục đến khiêng nó vào một gian phòng rộng rãi đẹp
đẽ. Khắp xung quanh có những bức chân dung trên tường và trên chiếc lò sưởi lớn
bằng sứ có hai lọ độc bình Trung Quốc chạm trổ đầy những rồng và hoa thếp vàng.
Lại còn có những cái ghế bành tuyệt đẹp, những ghế trường kỷ bọc lụa, những chiếc
bàn lớn chứa đầy sách và đồ chơi quý giá, đáng hàng mấy trăm mấy nghìn đồng tiền
vàng.
Cấy thông được đặt vào một cái thùng đầy cát, nhưng người ta không thể nào biết rằng
đấy là một cái thùng gỗ vì xung quanh có rèm xanh phủ kín. Thông ta không nén nổi
cảm động. Rồi sao nữa đây? Các cô gái và bạn đầy tớ bắt tay vào trang điểm cho
thông. Họ treo những cái bao dài nhỏ bằng giấy màu xanh đựng đầy kẹo lên cành
thông.
Những quả hạt dẻ và táo vàng trĩu xuống như mọc từ cành thông ra. Rồi sau họ cắm
những cây nến trắng xanh đỏ, đặt những con búp bê nom như người thật lên các cành;
tất cả những thứ đó thông ta chưa được nhìn thấy bao giờ. Chót vót trên ngọn thông
họ cắm một ngôi sao lớn bằng giấy tráng kim tuyệt đẹp. Xung quanh thông mọi người
đều reo lên:
- Đến tối tất cả sẽ sáng rực lên phải biết!
Thông ta tự nhủ:
- Ồ! Sao cho chóng đến tối nhỉ? Đèn nến thắp lên thì phải biết! Rồi còn gì nữa nhỉ?
Giá các cây trong rừng đến được đây mà ngắm ta! Có lẽ lũ chim cũng sẽ đến ngắm ta
qua cửa kính đấy. Liệu đông qua, hạ tới, ta có được trồng ở đây mãi với tất cả trang
sức này không?
Thế là nó đã đoán ra được việc sẽ xảy ra sau này, nhưng vì quá sốt ruột, nó cảm thấy
các lá đều nhức nhối, đối với một cây thông nhức lá cũng khó chịu như chúng ta nhức
đầu.
Sau cùng, người ta thắp nến lên. Sáng quá, huy hoàng quá! Sung sướng, thông ta rùng
mình đến tận các cành nhỏ, đến nỗi một ngọn nến bắt lửa vào một cành cháy khét lèn
lẹt.
- Trời ! – các cô gái kêu lên và lao vào dập lửa.
Thông ta không dám rùng mình nữa, chỉ sợ hỏng mất đồ trang sức. Nó long lanh sáng
rực lên.
Cửa ra vào bỗng mở toang ra và một lũ trẻ con ùa vào dường như muốn xô đổ cây
thông. Người lớn điềm tĩnh theo sau. Lũ trẻ con dừng lại, lặng đi ngắm nghía cây
thông, nhưng sau một lát chúng lại vui cười ầm ĩ và bắt đầu nhảy vòng tròn xung
quanh gốc cây. Những đồ chơi dần dần bị lấy tuốt cả. Thông ta tự hỏi : “Chúng làm gì
thế này? Sắp có chuyện gì chả biết được?”
Nến đã tàn và khi cháy gần hết người ta bèn tắt đi. Lúc ấy trẻ con được phép phá cây
Noel, chúng ùa vào làm các cành thông gãy răng rắc. Nếu không được chôn chặt ắt là
thông ta đã đổ nhào.
Sau đó lũ trẻ con nhảy múa với những đồ chơi xinh đẹp của chúng, chẳng đoái hoài gì
đến thông nữa. Chỉ có mỗi bà vú già đến nhìn ngó các cành, nhưng chỉ để tìm xem có
cái kẹo hoặc quả táo nào còn sót lại chăng.
- Kể cho chúng cháu nghe một chuyện! Kể cho chúng cháu nghe một chuyện! - Bọn
trẻ con vừa reo vừa kéo một người thấp béo đến ngồi dưới gốc thông. Người ấy nói:
- Thế là chúng mình ngồi giữa cành lá xanh tươi và chắc thông cũng thích. Nhưng chỉ
kể một chuyện thôi nhé! Các cháu có thích nghe chuyện Ivet Aval hay chuyện
Klumpê Đumpê ngã thang gác nhưng vẫn trèo được lên ngôi vua và được lấy công
chúa không?
Đứa thì kêu:
- Ivet Avet.
Đứa thì kêu :
- Klumpê Đumpê.
Chúng làm ồn lên. Riêng cây thông vẫn đứng im và tự hỏi:
- Họ không đếm xỉa gì đến mình nữa à? Không cần đến mình nữa chắc?
Ông già kể chuyện Klumpê Đumpê, bọn trẻ con vừa vỗ tay vừa la: “Nữa ! Nữa !”
Chúng còn muốn nghe cả chuyện Ivet Avet, nhưng chỉ được nghe có mỗi một chuyện
Klumpê Đumpê. Thông ta trầm lặng suy nghĩ, chim chóc trong rừng chưa bao giờ kể
cho nó nghe một chuyện nào giống như chuyện Klumpê Đumpê bị ngã thang gác,
nhưng vẫn lấy được công chúa, Thông nghĩ thầm:
- Ừ phải! Ở đời này cũng có thế thật. Chuyện ông cụ kể chắc là không ngoa, có vẻ
thật lắm. Biết đâu đấy? Có thể mình cũng sẽ rơi xuống cầu thang, để rồi sẽ lấy được
một nàng công chúa.
Nó khấp khởi mừng thầm và tưởng tượng đến ngày hôm sau trên người nó sẽ lại mắc
đầy nến, đồ chơi, giấy tráng kim và hoa quả.
Nó tự nhủ:
- Đến mai mình sẽ không run nữa. Mình sẽ tràn trề hạnh phúc. Đến mai mình sẽ lại
được nghe chuyện Klumpê Đumpê và có lẽ cả chuyện Ivet Avet nữa.
Đêm hôm ấy, nó lặng lẽ mơ màng.
Sáng ra, bọn hầu gái bước vào, thông ta hí hửng:
- A! Lại bắt đầu mở hội đây.
Nhưng không! Người ta khiêng nó ra khỏi phòng để đưa lên một cái kho trên gác,
quẳng vào một xó tối như bưng.
Thông nghĩ thầm:
- Thế này là thế nào? Đến chốn này thân mình sẽ ra sao nhỉ? Lần này mình sẽ được
nghe kể chuyện gì nhỉ?
Rồi nó dựa vào vách mà mơ màng.
Ngày tháng trôi qua, chẳng có ma nào trèo lên nhà kho và nếu có người lên đến nơi
cũng chỉ là để đem vứt vào đấy những chiếc hòm lớn. Thông ta đành phải tin là mình
đã bị quên hoàn toàn.
Nó tự nhủ:
- Ngoài kia, đông đã đến nơi rồi. Đất đã cứng ra và phủ đầy tuyết. Giờ thì người ta
không đem trồng mình được nữa rồi. Tất nhiên là mình phải ở đây đến tận mùa xuân.
Tất cả đều tuyệt mỹ và loài người cũng tốt thôi. Giá cái kho gớm ghiếc này đỡ tối một
chút thì hay quá! Chẳng có lấy một chú thỏ nào! Trong rừng khi tuyết rơi và đàn thỏ
chạy ngang qua thật là vui… thế mà hồi đó mình lại đâm cáu khi chúng nhảy qua
ngọn mình. Chốn này quả là hoang vu đáng sợ.
- Chít ! Chít - Một con chuột nhắt vừa kêu vừa nhảy nhót đến gần thông, rồi một con
nữa theo sau, cả hai đều đánh hơi rồi trèo lên cành thông. Chúng xuýt xoa:
- Rét đâu mà khiếp thế. Nếu không rét thì ở đây cũng sướng đấy chứ, phải chăng bác
thông già?
Thông đáp:
- Ta đâu đến nỗi già, còn có khối kẻ già hơn ta.
- Thế bác ở đâu đến đây? Bác biết gì nào? Hãy tả những danh lam thắng cảnh trên trái
đất cho chúng tôi nghe. Bác đã đi đến những nơi đó chưa? Bác đã được đến cái chạn
đựng đầy phó mát trên các ngăn, có đùi lợn sấy lủng lẳng treo trên nóc, nơi có thể
khiêu vũ trên những cây nến làm bằng mỡ, nơi mà khi vào thì gầy, khi ra thì béo nung
núc không?
- Không, ta không biết nơi ấy. Nhưng ta biết cánh rừng có mặt trời lấp lánh và chim
muông ca hát.
Thông kể cho chuột nhắt nghe cuộc đời niên thiếu của mình. Chưa bao giờ chúng
từng được nghe một chuyện như vậy, chúng dỏng cả tai lên, miệng nói:
- Bác biết đến là nhiều chuyện. Sao bác sướng thế?
- Ta mà sướng ư? Nói rồi thông ngẫm nghĩ về câu chuyện mình vừa kể. Phải, suy cho
cùng, hồi ấy quả có sướng thật.
Rồi thông kể đến chuyện đêm Noel, thân nó đầy những bánh ngọt và nến.
Chuột nhắt trầm trồ:
- Trời, bác thông già, sao bác sướng thế?
Thông nói:
- Ta đã già đâu kia chứ! Người ta mới đem ta ở rừng về từ mùa đông thôi mà. Ta vừa
mới lớn lên mà họ đã tống ta vào một cái thùng. Rõ thật là khó chịu.
Chuột nói:
- Bác kể chuyện hay quá đi mất!
Đêm sau, hai con chuột nhắt rủ thêm bốn con nữa đến để nghe thông kể chuyện.
Thông nói:
- Phải, hồi ấy quả có sướng thật, nhưng rồi lại cũng sẽ có những ngày như vậy.
Klumpê Đumpê ngã thang gác mà còn lấy được một nàng công chúa. Rất có thể ta
cũng sẽ vớ được một nàng công chúa.
Nói rồi thông tưởng nhớ đến một cây phong xinh xắn trong rừng mà nó tưởng tượng
là một nàng công chúa thật.
Lũ chuột nhắt hỏi:
- Klumpê Đumpê là gì thế?
Thông ta kể lại câu chuyện không sót một chữ. Lũ chuột nhắt thích quá, tưởng như
muốn nhảy lên đến ngọn thông.
Đêm sau, chuột nhắt kéo đến đông hơn và đến chủ nhật lại có thêm cả hai gã chuột
chù, nhưng hai gã tuyên bố rằng câu chuyện chả có gì lý thú, làm cho lũ chuột nhắt
buồn xỉu. Vì thế câu chuyện đối với chúng, từ đó trở đi, cũng kém phần lý thú.
Chuột chù hỏi:
- Bác chỉ biết có mỗi chuyện ấy thôi à?
- Ừ, chỉ có thế thôi – thông trả lời – đó là chính câu chuyện ta được nghe kể trong
buổi tối sung sướng nhất của đời ta, nhưng lúc đó, ta không biết là sung sướng đến
mức nào.
- Chuyện của bác thật chán ngấy! Thế bác không biết ở đâu có mỡ miếng và nến làm
bằng mỡ à? Bác không biết chuyện nào nói về cái chạn đựng thức ăn à?
- Không ! Thông nói.
- Thế thì xin chào bác ! Nói rồi chuột chù kéo nhau về.
Lũ chuột nhắt cũng rút lui nốt.
Thông ta lẩm bẩm:
- Dẫu sao nhìn lũ chuột nhắt ngồi quây tròn quanh mình nghe kể chuyện cũng thấy
thú vị. Nhưng cảnh đó cũng chẳng còn. Chỉ khi nào người ta lôi mình ra khỏi nơi này
thì hạnh phúc mới trở lại.
Bao giờ đến lúc ấy nhỉ?
Một buổi sáng đẹp trời, người ta đến dọn dẹp kho thóc, khuân hòm đi và kéo cây
thông ra khỏi xó nhà. Nó bị quăng xuống đất hơi mạnh, nhưng liền đó có một người
vác nó đem qua một cầu thang sáng sủa.
- Đời lại vun vút lên rồi ! Thông nghĩ thầm khi được mang ra sân và cảm thấy có gió
mát và ánh nắng đầu xuân.
Thông mải nhìn các vật quanh mình đến nỗi quên cả bản thân mình. Liền với cái sân
có mảnh vườn đầy hoa nở. Hoa hồng tươi thơm ngát rủ trên bờ rào, bồ đề đang ra hoa
và chim nhạn vừa bay vừa hót : kia – rơ – vi – rơ – vít.
- Giờ đây ta lại sắp được sống! - Thông thì thầm và vươn cành ra. Than ôi ! Cành đã
khô vàng. Người ta quẳng thông vào một xó giữa đám cây tầm ma và cây gai. Ngôi
sao bằng giấy vẫn còn đính trên ngọn và lấp lánh ánh nắng.
Trong sân có vài đứa trẻ con hôm lễ Noel đã nhảy múa quanh cây thông và thấy thông
hôm ấy rất đẹp. Đứa bé nhất chạy lại cầm lấy ngôi sao vàng óng, reo lên:
- Ồ, xem này ! Ngôi sao hãy còn đính trên cây thông Noel già xấu xí này!
Nói rồi, nó dận giày lên cành thông gãy răng rắc.
Thông ta nhìn những đóa hoa đẹp và khu vườn xanh tươi mát mẻ rồi lại nhìn cái thân
mình. Nó muốn quay trở lại xó tối trong kho thóc. Nó nghĩ đến thời thanh xuân của
nó trong rừng, nghĩ đến cái đêm Noel vui sướng và nghĩ đến những con chuột nhắt
thích nghe kể chuyện Klumpê Đumpê.
- Thế là hết ! Ai bảo lúc sướng lại chả biết đường mà sướng?
Một anh đầy tớ đến chặt cây ra từng mảnh, được một bó củi to đem đun bếp. Người ta
nghe thấy những tiếng thở dài và những tiếng kêu thất thanh. Bọn trẻ con chạy lại
đứng trước ngọn lửa mà reo: “Phì ! phì !” nhưng những tiếng phì phì của cây thông là
những tiếng thở dài thực sự. Nó nghĩ đến những ngày hè trong rừng, những đêm đông
ngoài bầu trời khoáng đãng, những sao lấp lánh trên trời. Nó nghĩ đến đêm Noel và
đến Klumpê Đumpê, câu chuyện độc nhất đã học được và kể lại được.
Thế rồi, chẳng còn sót lại một tí gì của cây thông non nữa.
Lũ trẻ con lại chạy ra sân, đứa bé nhất còn đeo trên ngực ngôi sao vàng mà thông đã
được đeo trong cái tối sung sướng nhất của đời nó.
Cái tối hôm ấy không còn nữa và câu chuyện của chúng ta cũng hết như tất cả các câu
chuyện trên đời này.
Em bé bán diêm
Rét dữ dội. Tuyết rơi. Trời đã tối hẳn. Đêm nay là đêm giao thừa.
Giữa trời đông giá rét, một em gái nhỏ đ...
 





